Đạo đức học Ấn Độ giáo

Ấn Độ giáo hay đạo Hinđu là tôn giáo có những hình thức ban đầu là đạo Veda và đạo Bàlamôn mà kinh điển của nó là bộ Veda

Kinh Veda có ba phần: Samhita hay Mantra (Tụng thi), Brahmana (Nghi thức tế tự) và Upanishad (Áo nghĩa thư), trong đó Upanishad có đến 108 bản. Tuy không mạch lạc và quá trình hình thành nó kéo dài nhiều trăm năm nhưng Upanishad được coi là đỉnh cao của kinh điển Hinđu. Chính vì vậy mà có nhà nghiên cứu đã nhận xét: Nói đến tư tưởng của người Ấn Độ mà không nói đến Upanishad thì chẳng khác gì nói đến Kinh Thánh mà bỏ qua lời thuyết pháp trên núi của Chúa Giêsu, chẳng khác gì nói đến Phật giáo mà không căn cứ vào lời dạy của Phật Thích Ca ở Benares. Không có một hình thức tư tưởng quan trọng nào ở Ấn Độ, kể cả Phật giáo, mà lại không bắt nguồn từ Upanishad [1].
Một tài liệu khác đáng tin cậy để tìm hiểu về đạo đức Ấn Độ giáo  là tập Bhagavad Gita (Chí tôn ca). Đến với Bhagavad Gita là đến với “một tác phẩm đúc kết toàn bộ học thuyết Veda thể hiện trong những thánh điển đầu tiên: Veda, Brahmana và Upanishad… Gita có thể được coi là trung tâm của toàn thể sinh hoạt tâm linh Ấn Độ”[2]. Bhagavad Gita còn là “một tác phẩm tán thán ý nghĩa tinh xác… của kinh thư Ấn Độ bàn về đức hiền tính. Trong tác phẩm này có thể thấy những tinh hoa thanh thoát nhất…không mang dấu vết tạp nhạp như nghi thức, lễ trọng và thần thoại”[3].
Những tài liệu nói trên của Ấn Độ giáo cho thấy: Trong khi thừa nhận hiện tượng luân hồi – nghiệp báo của cuộc đời, khát vọng của người Ấn Độ không phải chỉ dừng lại cuộc sống hạnh phúc ở kiếp này hoặc ở kiếp sau mà họ muốn vươn đến hạnh phúc vĩnh cửu. Đây là lúc linh hồn của con người đã vượt khỏi không gian và thời gian, vượt khỏi sự chi phối của nghiệp mà hòa đồng với tinh thần của vũ trụ. Người Ấn Độ gọi là giải thoát.
Có thể hình dung “linh hồn đã được giải thoát cũng giống như giọt nước mắt trên lá sen, muốn lăn đi đâu cũng được”[4], hoặc nó cũng như một nắm muối bỏ vào nước và hòa tan trong nước, tuy không còn hình thể gì nhưng nước chỗ nào cũng mặn.
Để đạt đến giải thoát con người phải thực hiện nhiều việc cụ thể, song tất cả đều thuộc về cuộc sống đạo đức mà tư tưởng cơ bản của nó gắn liền với lòng kính trọng, lễ nghi tế tự để giao tiếp với thần linh và việc thi hành bổn phận của mỗi người trong đẳng cấp của mình. Có thể nói đây là đặc trưng cơ bản của đạo đức xã hội Ấn Độ giáo cổ đại.

1.Đạo đức xã hội: Tế tự thần linh, Thi hành bổn phận
1.1. Tế tự thần linh
Giai đoạn đầu Ấn Độ giáo tin rằng vũ trụ này là sự hợp thể của ba cõi:thiên giới, địa giới và địa ngục do thần linh và con người ngự trị.Hình ảnh gần gũi nhất của người Ấn Độ là Trời và Đất. Theo họ, Trời Cha (Dyans) – Đất mẹ (Aditi) giao hợp với nhau tạo ra những cơn mưa thấm sâu vào lòng đất. Vạn vật nảy sinh từ đấy. Con người và thần linh (Aditya) cũng ra đời từ đấy. Con người mang trong mình sự hội tụ của trời, đất và cũng khởi thủy với thần linh nên luôn có khát vọng hòa đồng với thần linh và trời, đất. Một loạt những vị thần chiếm ngự tâm trí của người Ấn Độ chia nhau cai quản ba cõi của vũ trụ: Thần Không trung (Varuna) với ngàn vạn con mắt lấp lánh luôn theo dõi mọi sự vận hành của từng người để ban thưởng hoặc trừng phạt; Thần Rạng đông (Ushas) kiều diễm với bộ ngực căng tròn, khoác tấm áo choàng trắng muốt, đem đến cho con người ánh sáng, tình yêu và tuổi trẻ bất tận; Thần Lửa (Agni) với thân mình vừa vàng, vừa đỏ ngồi trên xe mà gió là bánh, khói là cờ, chu du khắp vũ trụ, v.v.. Mỗi vị thần có quyền lực riêng, có cuộc sống đầy thánh thiện nhưng đã cùng nhau tạo ra sự nhịp nhàng, đồng điệu cho mọi hiện tượng cát, hung trong các cõi.
Người Ấn Độ quan niệm môi giới giữa loài người với thần linh là Thần Lửa Agni và thần Rượu Soma. Để bày tỏ tiếng nói giao cảm của mình, người Ấn Độ đã tổ chức những buổi lễ hiến tế rất cẩn trọng. Trên đàn tế, một dàn hỏa thiêu được dựng lên. Ngọn lửa hiến tế được gọi là lưỡi của Agni thiêu cháy súc vật, thóc gạo, hoa trái, v.v.. mà con người dâng cho thần linh. Men nồng của Thần Rượu Soma làm các vị thần thêm hăng say, thêm sức mạnh để trợ giúp con người.
Theo thời gian, vai trò của thần linh tượng trưng cho các hiện tượng của tự nhiên bị mờ nhạt và thay vào đấy là hệ thống thần linh thể hiện những nguyên lý sinh thành của vũ trụ. Đây là bộ ba “Tam vị nhất thể” gồm Thần Sáng tạo (Brahma), Thần Bảo vệ (Vishnu) và Thần Hủy diệt (Shiva). Những vị thần này dần khắc sâu vào tâm trí của người Ấn Độ.
Thần Sáng tạo Brahma là vị thần đứng đầu các vị thần. Thần được sinh ra từ quả trứng vàng nguyên thủy. Hình tượng thần là người có bốn đầu, râu rậm, cưỡi thiên nga. Thần có bốn cánh tay, một tay cầm Kinh Veda, một tay cầm trượng, một tay cầm cung và một tay cầm bình nước. Cũng có thuyết cho rằng Thần Brahma cũng chính là Purusha - Thần Sơ khởi hoặc Con Người nguyên thủy – Purusha có một ngàn đầu, một ngàn mắt, một ngàn chân và toàn thể phân ra trong khoảng không vô tận. Truyền rằng, Purusha đã dạy các thần linh những ân luật để đặt ra những bài thánh ca, những quy tắc về nghi thức cũng tế sau này lại truyền lại cho loài người. Dạy các vị thần xong, Purusha bắt đầu sáng tạo ra mặt trăng, mặt trời, mặt đất, bốn phương, v.v..từ tâm, từ mắt, từ miệng,v.v.. của mình. Ngựa, lừa, trâu, bò và vạn vật cũng được thần lần lượt cho xuất hiện. Cuối cùng, Con Người nguyên thủy – Thần Sáng tạo Purusha – đã tự phân thành bốn đẳng cấp: miệng thần thành đẳng cấp Brahmana, tay thần thành đẳng cấp Kshatriya, đùi thần thành đẳng cấp Vaishya và chân thần thành đẳng cấp Shudra. Thần bảo vệ Vishnu được coi là Phúc thần, thường được hình dung đang nằm trên những khúc cuộn của con rắn ngàn đầu nổi bồng bềnh trên biển. Thần biểu hiện cho sức mạnh chinh chiến để bảo toàn sự tồn tại.
Thần Hủy diệt Shiva được người Ấn Độ hình dung rất đa dạng, đa tính. Ở Thần có sức mạnh của sự tàn phá nhưng có cả sức mạnh của sự tạo dựng. Thần có tính chất khắc khổ nhưng lại đầy phóng dục. Hình tượng của Shiva vừa là vị thần đang nhảy điệu vũ trụ trong vòng lửa bằng bốn cánh tay của mình, vừa là trụ đá linga (ngẫu tượng hình dương vật) – biểu tượng của sự phồn thực trong quá trình sáng tạo – thường đặt trong điện thờ của các điện đài.
Việc tế tự thần linh đối với người Ấn Độ trước hết bắt nguồn từ quan niệm tế tự ảnh hưởng đến mọi sự vận hành của vũ trụ và mọi thành bại của con người. Upanishad chép: “Mặt trời sẽ không mọc lên được nếu lúc bình minh nhà tư tế không cử hành lễ lửa” hoặc “…những ngọn lửa bàn thờ không có lễ vật tuần trăng lu và lễ vật tuần trăng tròn, lễ vật kỳ mưa và lễ vật hoa quả đầu mùa; hoặc không được cung dưỡng; hoặc cung dưỡng không có nghi thức, không có khách, không có thứ hiến dâng cho chư thần thì tất cả mọi hy vọng sẽ tiêu tan theo bảy tầng may khói”[5]. Bởi vậy, “khi ngọn lửa hiến tế đã thắp với sánh sáng chập chờn, rung rinh thì hãy tin tưởng mà ném những lễ vật giữa hai tuần rảy mỡ sữa”[6].
Nhưng quan trọng hơn, tế tự thần linh còn bắt nguồn từ lòng tin chân thành rằng tế tự là lẽ sống, là việc làm cơ bản nhất biểu hiện đức độ của cuộc đời[7]; nó còn là phương thức hữu hiệu nhất để đạt được giải thoát. Bhagavad Gita chép: “Muốn chóng đạt được chính quả thì chính quả ấy phải do những nghiệp hy sinh thánh thiện ở đời”[8]hoặc “Ai không biết hy sinh trong thế giới này thì người đó chẳng bao giờ thấy thế giới khác”[9]. Từ hy sinh, như dịch giả Bhagavad Gita giải thích, “trong Phạn ngữ là Yajna, tức lễ nghi hay tinh thần thờ phụng theo ý nghĩa tôn giáo, đồng thời danh từ này cũng có nghĩa là hành động dâng đồ phúng hiến”[10]. Bhagavad Gita còn xác định: “Nếu đức hạnh hy sinh do lòng ham muốn phô trương để mong được người đời kính ngưỡng, để đạt đến danh đức hay lòng tôn kính thì đức hạnh này là tham dục, dễ đổ vỡ, vô thường. Nếu đức hạnh hy sinh vì ngu xuẩn, bướng bỉnh, thích dày vò, đày ải tâm hồn mình hay chủ tâm làm hại người khác thì đức hạnh này là ngu lậu”[11]. Còn nếu hy sinh không hề mong báo đáp, vì tin tưởng giản dị rằng đó là hành động phải làm thì đấy là đức hạnh tinh khiết[12].
Chính vì vậy, với các vị thần, người Ấn Độ thờ chung nhưng cũng riêng. Nhà nào cũng có nơi thờ phượng. Từ những công việc có tính chất cộng đồng như chiến tranh, săn bắt cho đến những công việc riêng tư như sinh con đẻ cái, bệnh tật, ốm đau, v.v. nhất nhất người Ấn Độ cúng tế trước để tạ ơn hay cầu khẩn rồi sau đó làm gì mới làm. Xúc phạm đến thần linh bị coi là làm điều ô nhục thường bị khai trừ ra khỏi đẳng cấp của mình để xuống sống ở đẳng cấp thấp hơn.                        
Các nhà nghiên cứu đã nhận xét rất đúng rằng, những vấn đề đạo đức xã hội của Ấn Độ cổ đại đã gắn chặt nhân luân với tôn giáo. Ở đây, đạo đức không chỉ thiết lập những quy tắc sinh hoạt do tương quan giữa người với các vị thần linh thiêng của vũ trụ. Đấy là những khởi niệm về một nền luân lý được thể hiện qua sắc thái sinh hoạt lễ nghi, tế tự[13]. Nó gắn rất chặt với việc thực thi bổn phận của mỗi người.
1.2. Thi hành bổn phận
Việc xã hội Ấn Độ chia thành những đẳng cấp khác nhau đã định ra những bổn phận, những đức tính cần rèn luyện khác nhau tương ứng với những đẳng cấp này. Bhagavad Gita chép: “Các đức tính như bình thản, tự đại, đạo hạnh, thanh bạch, kiên trì, ngay thẳng, tuệ mẫn, tri thức và lòng sùng đạo là hành động của bậc đạo sư Bàlamôn.
Các đức tính như anh hùng, oai nghiêm, kiên trì, khôn ngoan, gan dạ tại chiến trường và có tài lãnh đạo là hành động của bậc Kshtriya.
Các đức tính như chuộng canh tác, nuôi gia súc và có tài buôn bán là hành động của bậc Vaishya.
Hành động bao hàm tính chất phụng sự là của bậc Shudra”[14].
Bổn phận của mỗi đẳng cấp đã được bộ luật Manou chi tiết hóa. Manou là bộ luật đầu tiên của xã hội Ấn Độ cổ đại do đẳng cấp Bàlamôn sọan dưới dạng về, nhưng nó được thần thánh hóa khi truyền bá trong dân chúng để người Ấn Độ tin rằng Manou là thủy tổ của đẳng cấp Bàlamôn, được Barham trao tận tay bộ luật mang tên ông gồm 2685 câu thơ để dạy đạo làm người.
Theo Luật Manou, bổn phận của người Bàlamôn là tư tế để giao cảm với thần linh, là dạy chữ cho những người được học và giải thích Kinh Veda. Kính trọng người Bàlamôn là bổn phận của tất cả những đẳng cấp còn lại. Kẻ nào mới nảy ra ý định đánh người Bàlamôn thôi cũng sẽ bị đày một trăm năm xuống địa ngục. Một Shudra mà giết một người Shudra thì có thể được tha tội nếu nộp cho thầy tư tế mười con bò cái, nếu giết một Vaishya thì phải nộp một ngàn con, nhưng giết một người Bàlamôn thì không có gì có thể cứu được mạng sống.
Vẫn theo Luật Manou, người Shudra mà nghe trộm Thánh Kinh, tai sẽ bị đổ chì; đọc Thánh Kinh lưỡi sẽ bị xẻo; thuộc thánh Kinh, thân sẽ bị chẻ làm hai vì bổn phận của họ chỉ là phụng sự, v.v..
Thực hiện quy định đối với đẳng cấp của mình và giữ đúng ranh giới giữa các đẳng cấp là bổn phận của con người. Hành động theo bổn phận đó là mục đích của những năm tháng sống trên trần thế”[15].
Song, hành động này chỉ được coi là có đạo đức khi: Người hành động này phải cần mẫn, còn nếu “tìm cách để việc đến ngày hôm sau thì đấy là hành động không còn đức hạnh”[16].
Người hành động là vô tư, không hề có mục đích riêng, còn nếu đã theo đúng bổn phận nhưng do lòng ham muốn phô trương để mong người đời ngưỡng mộ, mong đạt đến danh đức hay đạt được lòng tôn kính thì đấy là lòng tham dục”[17].
Người hành động phải hiểu được việc làm của mình là đúng bổn phận, còn nếu hành động “vì ngu xuẩn, bướng bỉnh, thích dày vò ải tâm hồn mình… thì đấy là hủ lậu”[18].
Nói tóm lại, người hành động theo bổn phận được coi là có đức hạnh khi hành động chỉ vì tin tưởng giản dị rằng đó chính là hành động phải làm[19].
Tất cả những tư tưởng trên được thể hiện khá rõ ràng, mạch lạc qua toàn bộ nội dung tác phẩm Bhagavad Gita. Tác phẩm tường thuật lại cuộc đối thoại giữa Krishna và Arjuna. Tiếng nói của Krishna với Arjuna là tiếng nói của Đấng Sáng tạo với một dũng sỹ trong đẳng cấp Kshatriya trên chiến trường. Trước giờ giao chiến, Arjuna đầy dũng mạnh cùng Krishna ra quan sát trận địa để quyết những công việc cuối cùng cho trận đánh mà họ biết rằng nó sẽ vô cùng khốc liệt. Arjuna bỗng bàng hoàng, đau đớn bởi chàng nhận ra trong hàng ngũ đối phương có tất cả những người thân thích của mình, từ chú bác đến anh em, bè bạn. Arjuna bị giằng xé trước hai bổn phận: bổn phận của mình đối với người thân và bổn phận của người chiến sỹ đối với đẳng cấp. Arjuna không đang tâm tàn sát những người ruột thịt bằng những cây nỏ thần chàng đang có trong tay nên chàng đã quyết định bỏ cuộc chiến để rút vào rừng sống cuộc đời ẩn dật. Đến đây, Krishana lên tiếng: Hỡi Arjuna, Hoàng Đế Janaka và những vị vua khác đạt được chân lý nhờ hành động. Hãy hành động và đừng bao giờ quên rằng mục đích của hành động là bổn phận của cuộc đời. Khi bổn phận bị lãng quên thì tội lỗi sẽ bào trùm tất cả. Hãy để cho tâm thức bình thản: không yêu, không ghét, không buồn, không vui. Hãy để cho tinh thần độc lập và vững mạnh dù đứng trước một nắm đất, một gốc cây hay một thỏi vàng. Hãy không phân biệt hạnh phúc và đau buồn, thân và sơ. Hãy chiến đấu mà tâm trí không màng đến hậu quả bởi con người đạt đến tận thiện là do con người hành động hợp với bổn phận của mình. Hành động ấy có thể còn dang dở nhưng vẫn hơn hành động theo bổn phận của người khác cho dù nó hoàn tất vô cùng mỹ mãn[20]. v.v..
Những lời của Krishana khổng chỉ thấy con người muốn đến đạo hạnh phải thực thi bổn phận của mình cho dù bổn phận ấy đặt trong bất kỳ hoàn cảnh nào; mà còn cho thấy khi bổn phận giữa huyết thống và bổn phận đẳng cấp cùng được đặt ra mà lại mâu thuẫn với nhau thì sự lựa chọn phải là bổn phận đẳng cấp.
Có thể thấy ý tưởng của Bhagavad Gita về những nội dung này được thể hiện qua rất nhiều giai thoại khác nhau mà cuộc trao đổi giữa vua Ashoka với cô gái điếm Bindumati dưới đây chỉ là một:
Một chiều dạo chơi bên bờ sông Hằng, vua Ashoka bỗng muốn nước sông quay dòng chảy ngược lại, song quần thần không ai có thể làm được. Cô gái điếm Bindumati biết ý muốn của nhà vua và còn biết chỉ có những người chuyên làm điều thiện hạnh mới thực hiện được ý muốn đó. Cô đã xin nhà vua để thử sức mình. Nhà vua đồng ý và đã hết sức ngạc nhiên khi dòng sông hung hãn đã bị cô gái mảnh mai làm chủ.
- Tâu bệ hạ - cô gái thưa – Tiện nữ yếu đuối thật nhưng tiện nữ có sức mạnh của chân lý, của thiện hạnh và chính sức mạnh ấy đã thực hiện được ý muốn của bệ hạ.
- Một kẻ như người đầy tội lỗi sao dám nói đến chân lý và thiện hạnh.
- Tiện nữ đầy tội lỗi, đó là sự thật, nhưng dù xấu xa và tội lỗi đến mức nào, tiện nữ vẫn có chân lý và thiện hạnh, nhờ nó mà nếu muốn, tiện nữ có thể làm đảo lộn cả thế giới loài người.
- Thế chân lý và thiện hạnh ấy là gì?
- Tâu bệ hạ, đấy là, bất cứ người nào trả tiền cho tiện nữ thì dù người đó là Bàlamôn, là võ sỹ hay thường dân, tiện nữ đều đối xử như nhau. Tiện nữ không phân biệt, không ưu ái hay khinh thị họ. Tiện nữ chỉ biết có phụng sự theo nghề nghiệp và bổn phận của mình. Đó là chân lý của đạo hạnh mà nhờ nó tiện nữ đã sai khiến được con sông này[21].
Như vậy nói đến việc thiện, nói đến hành vi đạo đức là nói đến việc làm do đẳng cấp, do nghề nghiệp, do bổn phận quy định; việc làm được thực hiện với tất cả lòng thành tâm, kiên quyết và có ý thức; việc làm không cần xét đến phương tiện thực hiện nó và cũng không cần xét đến những gì mà nó mang lại.
Tư tưởng đạo đức lễ nghi và bổn phận đã giữ vai trò không nhỏ trong việc hình thành, củng cố nhiều tập tục và ngày càng khoét sâu ranh giới giữa các đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Nó cũng là cơ sở quyết định những yêu cầu đạo đức cá nhân và mẫu người lý tưởng của xã hội.

2. Đạo đức cá nhân: Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp  
Khi đề cập đến sự sáng tạo của vũ trụ, sự phân thân thành loài người của Thần Sáng tạo; đến luân hồi, nghiệp báo thì các giai đoạn phát triển của Ấn Độ giáo đã nói lên nhiều góc cạnh thuộc đạo đức cá nhân, song chỉ đến Bhagavad Gita những tư tưởng này mới được thể hiện tương đối tập trung và rõ nét.
Chương XVII của tập kinh điển này cho rằng, sự tồn tại của con người qua thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và quan niệm về đạo đức cá nhân được khai thác xoay quanh các nghiệp này.
2.1. Thân nghiệp
Bhagavad Gita chép: “Tỏ lòng kính trọng thần linh, kính trọng các bậc tài đức, các bậc đạo sư và các bậc đại hiền; huấn tập đức thanh bạch, ngay thẳng và hồn nhiên, đó là đạo hạnh của thân xác”[22].
Thực chất thân nghiệp mà Bhagavad Gita đòi hỏi là trên cơ sở kính trọng thần linh, con người phải kính trọng đẳng cấp Bàlamôn và tập mình sống theo nếp sống của đẳng cấp này. Đấy là nếp sống khác nhau theo bốn giai đoạn khác nhau trong quá trình vươn đến giải thoát.
Giai đoạn thứ nhất dành cho tuổi thiếu niên là học tập và tu luyện. Đây là giai đoạn mà trên nền tảng chung là học Kinh Veda, mỗi người tùy đẳng cấp của mình sẽ học nặng, nhẹ các môn học khác như nghi lễ tế tự, võ thuật hay điều hành chính sự. Thời gian học tập này thiếu niên phải tuân theo những giới luật cực kỳ khắt khe như khất thực, trai tịnh, độc tụng kinh điển, v.v.. dưới sự dẫn dắt của sư phụ trong khoảng mười hai năm.
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trần tục. Con người lập gia đình, tạo giàu sang, hưởng mọi thú vui trần thế trên cơ sở tôn trọng những quy định chung về bổn phận nghề nghiệp và đẳng cấp.
Giai đoạn thứ ba được bắt đầu khi con người cảm thấy tuổi đã cao hoặc đã có con, có cháu. Lúc này mỗi người “tự lột xác”, rũ bỏ mọi ràng buộc của đời thường, lui vào ẩn dật với cuộc sống tâm linh để tự tìm bản ngã vĩnh cửu. Đây cũng là giai đoạn thể hiện cao nhất lòng nhân hậu đối với người khác.
Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn xuất thế thành tu sỹ khất thực. Con người sống cuộc sống hoàn toàn hồn nhiên, thậm chí không bận tâm với thân xác của mình còn hay mất bởi các năng lực tinh thần đã đồng nhất với Đấng Sáng tạo.
Đương thời, khuynh hướng phóng dục và trai giới khắc khổ để giải thoát không phải không ảnh hưởng đến cuộc sống của người Ấn Độ. Bhagavad Gita  phản đối cả hai khuynh hướng này. Nó chủ trương “không phải cứ ăn thật nhiều, uống thật nhiều” hoặc “dốc lòng hiến mình đến mất ngủ, quên ăn” là được, mà “phải biết dung hòa khi ăn, khi chơi, khi hành động, khi ngủ, khi thức thì khổ đau mới không còn nữa”[23].
Cùng với những hành động của thể xác thực hiện thân nghiệp thiện, các giai đoạn phát triển của Ấn Độ giáo đều khuyên con người tu dưỡng việc nói năng. Đây chính là quan điểm của tôn giáo này về khẩu nghiệp.
2.2. Khẩu nghiệp
Bhagavad Gita chép: “Lời nói không gây hận thù, lời nói chính trực, dễ chịu, hữu ích và trau dồi kinh ngữ thánh hiền, đó là đạo hạnh của ngôn ngữ”[24].
Lời nói không gây hận thù, chính trực, dễ chịu, hữu ích là lời nói không phản ứng lại chế độ đẳng cấp đương thời, không oán thán với nỗi thống khổ bản thân đang gánh chịu; trau dồi kinh ngữ thánh hiền là học Kinh Veda, nói theo Kinh Veda và truyền bá Kinh Veda.
Những ý tưởng về khẩu nghiệp chỉ là sự khai thác thêm, hỗ trợ thêm cho thân nghiệp.
Cái mà tất cả các giai đoạn phát triển của Ấn Độ giáo tập trung vào là toàn bộ đời sống tinh thần của con người – là ý nghiệp.
2.3. Ý nghiệp
Ý nghiệp của Ấn Độ  giáo trước hết đòi hỏi con người phải hiểu về chính bản thân mình. Bhagavad Gita hình dung “thân này là cánh đồng, người hiểu biết về cánh đồng là bậc trí giả”[25]. Bậc trí giả hiểu về cánh đồng qua nhiều biểu hiện khác nhau cũng như con người hiểu về mình qua nhiều ý tưởng khác nhau. Đấy là: bản ngã với quan năng; bản ngã với dục tưởng là lòng đố kỵ; bản ngã với siêu thoát khỏi các rung động và nhận thức trực khởi nỗi đau của sinh, lão, bệnh, tử; bản ngã với hành động xa vợ, lánh con để tâm định tĩnh giữa các biến động của dục và vô dục; bản ngã với tinh thần trì cửu trong ý thức về đại ngã; v.v[26].
Tất cả đều bắt đầu từ bản ngã. Bản ngã với thể xác và linh hồn tạo nên, nhưng trước khi thể xác được giải thoát khỏi cõi trần thì liệu mấy ai có thể chống lại được cám dỗ của lòng tham dục bởi cội nguồn của nó bắt đầu từ cái thể xác đầy quan năng ấy.
Những quan năng mà Ấn Độ giáo đề cập đến là “lưỡi, tay, chân và những cơ quan sinh sản, bài tiết”[27]. Chúng sinh ra mọi đam mê và hiềm khích, “chúng cấu xé và làm vẩn đục tâm hồn…, chúng như khói che khuất ngọn lửa, như bụi làm mờ gương, như vô minh che mờ tâm thức”[28]. Vì vậy, để đạt được ý nghiệp thiện con người phải kiềm chế các quan năng. Làm được việc đó, trước tai mắt của con người mọi thanh sắc không còn khả năng quyến rũ, vạn vật không còn dị biệt. Bhagavad Gita dạy rằng, một khi con người đã kiềm chế được quan năng thì con người chỉ còn chú tâm vào giải thoát, tìm nơi cô tịch tham phiền để kiểm soát tâm tư và thể xác, để tinh khiết hóa tiểu ngã của mình và khi nào tiểu ngã, đại ngã hòa đồng thì đấy là lúc con người đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu[29] .
Như vậy, trước mắt mỗi người có nhiều cách hiểu về hạnh phúc và có nhiều cách để đạt đến hạnh phúc. Theo Ấn Độ giáo, hạnh phúc do tập hợp sức mạnh của quan năng và do sự rung động của đam mê, đấy là hạnh phúc của tham dục; nó khởi đầu như tiên tửu nhưng sau trở thành nọc độc hủy hoại con người. Hạnh phúc tinh khiết, vĩnh cửu trường tồn chỉ được sinh ra từ tri túc thanh bình của tiểu ngã và tuệ mẫn bằng việc thực hiện thân, khẩu, ý nghiệp thiện[30].
Những yêu cầu đạo đức trên có thể coi như tiêu chí để con người vươn đến nhưng nó không phải được áp dụng chung cho toàn xã hội. Đẳng cấp nô lệ Sudra và những người Pria, ngoài lề các đẳng cấp không là đối tượng tu dưỡng theo những phẩm chất trên. Với họ, tốt nhất là ngoan ngoãn làm việc theo sự sai khiến của ông chủ. Chính vì vậy, trong khi học Kinh Veda đức hạnh và tĩnh lặng tâm, thân là đỉnh cao của thân, khẩu, ý nghiệp đối với tăng lữ Bàlamôn và quý tộc thì nó lại là trọng tội đối với những tầng lớp cùng đinh trong xã hội.
Tuy vậy, những yêu cầu đạo đức chung nhất vẫn hình thành nên được mẫu người tiêu biểu cho Ấn Độ giáo thời cổ đại.

3. Mẫu người lý tưởng
Hình tượng mẫu người lý tưởng không thể hiện trong Thánh Kinh nhưng những lời răn đạo đức của cả Veda, Upanishad và Bhagavad Gita đã là chất liệu cho sử thi tạo nên họ mà tiêu biểu nhất là Rama và Sita trong anh hùng ca Ramayana.
Theo truyền thuyết, đạo sỹ Valmiki, nhờ Thần Sáng Tạo Brahama truyền cho cảm hứng đã kể Ramayana bằng những vần thơ tuyệt tác. Tuyệt tác đến nỗi khi nghe xong, Brahama phải kêu lên rằng: Chừng nào sông chưa hết nước, núi chưa hết đá thì Ramayana chưa hết làm say mê nhân thế và cứu giúp họ thoát khỏi vòng tội lỗi.
Anh hùng ca Ramayana kể về triều đại vua Dasharatha, vương quốc Koshala nằm trong phía Bắc sông Hằng. Vua Dasharatha có ba vợ nhưng không có con trai. Sau nhiều năm tu thân, tích đức, cầu tự và lập đàn dâng máu ngựa cho thần linh, vua mới hạ sinh được bốn người con trai. Người thứ nhất là Rama – được coi là hiện thân lần thứ bảy của thần Vishnu, do hoàng hậu Kausalya sinh ra. Ba người còn lại là Bharata, con của thứ phi Kaikeyi và Lakshmana, Satargana – con của thứ phi Sumitara.
Ngay từ nhỏ, những đứa con của vua Dasharatha đã được các đạo sỹ huấn luyện nên rất giỏi cả võ nghệ, cả về sự am hiểu Veda.
Đương thời, nước Mithyla do vua Danak trị vị vì rất thịnh về trồng trọt. Truyền rằng, một hôm vua Danak thân chinh đi cày ruộng với dân. Khi lưỡi cày của vua mới đi một đường thì trong lòng đất của luống cày hiện lên một bé gái đẹp như mơ. Vua Danak không có con nên nhận bé gái về nuôi và đặt tên là Sita. Đến tuổi lấy chồng Sita đã kén Rama sau khi Rama bẽ gảy được chiếc cung thần theo lời thách đố của vua Danak.
Khi tuổi đã cao, vua Dasharatha quyết định nhường ngôi cho Rama. Trong khi triều đình và dân chúng vui mừng chuẩn bị lễ đăng quang cho người con trẻ tuổi mà họ rất kính mến thì vua Dasharatha vô tình mắc mưu kế của thứ phi Kaikeyi, phải gạt nước mắt để nhường ngôi cho Bharata khi đó đang đi chơi xa và đày Rama vào rừng trong mười bốn năm.
Rama tuy sửng sốt nhưng với bổn phận làm con nên đã vui vẻ nhận lệnh. Lakshamana tình nguyện theo anh. Họ đến từ giã Sita và khuyên Sita hãy ở lại phụng dưỡng cha mẹ. Sita không nghe vì nàng nghĩ đến bổn phận của người vợ.
Khi Bharata trở về, vợ chồng Rama và Lakshamana đã đi xa. Bất bình trước ý muốn của mẹ, Bharata đã một mình vào rừng mời Rama quay về ngôi báu nhưng những lời cầu xin của Bharata không có hiệu quả. Bharata đành trở về, chàng đem theo đôi giày của Rama, đặt nó lên ngai vàng, còn mình chỉ nhận là phó vương, dời sang sống ở thành phố nhỏ bên cạnh kinh đô để trị nước.
Trong rừng, sau nhiều năm sống khắc khổ nhưng liên tiếp lập được chiến công trừ ác quỷ, Rama, Sita và Lakshmana đã gặp một tai họa vô cùng đau đớn. Rama, vì cự tuyệt dục tính của nữ quỷ Soorpanakha đã bị quỷ vương Ravana – cha của Soorpanakha – trả thù. Ravana bắt cóc Sita và ép nàng làm vợ. Rama đau đớn cùng Lakshamana lên đường tìm kiếm Sita. Qua rất nhiều gian khổ và những trận chiến ác liệt, cuối cùng Rama đã giết được Ravana, giải thoát cho Sita nhưng không chịu nhận Sita làm vợ nữa. Chàng tuyên bố, sở dĩ chàng giết Ravana để cứu Sita chỉ vì bổn phận của một người thuộc đẳng cấp Ksnatriya và vì bổn phận của một người chồng. Để minh chứng cho lòng đoan chính của mình. Sita khấn thần linh hãy thêu cháy nàng nếu nàng vẩn đục và hãy trả lại sự trong trắng cho nàng nếu nàng luôn làm tròn bổn phận là vợ của Rama. Sau đó Sita đã thanh thản bước lên dàn hỏa khí. Khi vào lửa nàng được thần lửa Agni đón nhận. Thần đã nâng nàng trả lại cho Rama và minh oan cho nàng. Khi ấy Sita mới biết thực sự Rama không hề nghi ngờ sự trong trắng của nàng, nhưng vì để mọi người cùng biết sự trong trắng ấy, chàng đã phải dùng đến dàn hỏa khí. Nhân dân nước Koshala vui mừng đón vợ chồng Rama và Lakshmana về kinh đô, đưa Rama lên ngôi báu.
Ngày tháng trôi đi, Sita đã có thai nhưng âm ỉ đây đó vẫn có sự nghi ngờ về tiết hạnh của nàng. Rama không muốn mang tiếng là người nêu gương xấu cho phụ nữ trong vương quốc nên Sita lại phải trở vào rừng. Tại đây, Sita được đạo sĩ Valmiki nhận làm tín nữ. Mấy tháng sau Sita sinh đôi hai đứa con trai. Chúng được đạo sĩ nhận làm đệ tử.
Mười hai năm trôi qua, một ngày kia Rama làm lễ dâng máu ngựa tế thần để có hoàng tử nối dõi tông đường như vua cha ngày ngày trước. Valmiki đã đem hai đứa trẻ về dự lễ. Trước tế đàn, Valmiki đã cầm nhịp cho hai đứa trẻ hát bản hùng ca Ramayana do mình sáng tác. Bản hùng ca dài hai mươi tư ngàn câu đôi phải hát trong hai mươi lăm ngày liền. Nó mô tả hết sức tỷ mỉ và cảm động toàn bộ cuộc đời của Rama và Sita. Rama nhận ra hai con mình và khẩn cầu Valmiki đưa Sita trở lại hoàng cung.
Ngày hôm sau Sita gặp lại Rama. Nhà vua khóc sướt mướt và yêu cầu nàng lại tuyên thệ về sự trong trắng trong mười hai năm qua. Sita lúc này đã quá mệt mỏi. Nàng cầu khẩn thần linh hãy đón nàng về lòng đất nếu nàng đã làm tròn bổn phận của người vợ, người mẹ. Mặt đất trước mặt Sita nứt ra như một luống cày. Luống cày đã sinh ra Sita thì nay lại mở rộng đón nàng trở lại. Rama kinh hoàng, đau đớn nhưng Thần Sáng tạo Brahama hiện ra an ủi và cho biết chàng sẽ gặp Sita ở cõi khác. Ít lâu sau Rama nhường ngôi cho con để trở về với bản ngã nguyên thủy của mình.
Anh hùng ca Ramayana được xây dựng trên nền tảng đạo đức chính thống của Ấn Độ cổ đại: đạo đức lấy lễ nghi và bổn phận làm căn bản. Những nhân vật chính của anh hùng ca đã đáp ứng hoàn hảo mọi phẩm chất mà xã hội đòi hỏi một cách đầy nhân tính. Họ cũng bị dằn vặt khi phải hy sinh lợi ích; họ cũng yêu, cũng ghét, cũng căm thù, cũng biết ơn, cũng có lòng thánh thiện và cũng có lúc đầy dục tính, v.v., nhưng họ hành động theo đúng mệnh lệnh của lương tâm mà nghề nghiệp và bổn phận đặt ra.
Trong anh hùng ca, Rama với tư cách là thái tử đã chuẩn bị đăng quang hoàn toàn có thể chống lại những quyết định phi lý của thứ phi Kaikeyi và chính vua Dasharatha cũng thầm mong con chống lại; Bharata hoàn toàn có thể ngồi ở ngai vàng ít nhất cũng trong mười bốn năm vắng mặt Rama; Sita hoàn toàn có thể không vào rừng lần thứ nhất cùng Rama để hoặc ở lại với vua Dasharatha, hoặc tạm về với cha đẻ là vua Danak; v.v., những tất cả đã không viện đến bất kỳ một lý do nào để bào chữa cho việc sẽ không thực thi bổn phận, cho dù đấy là những lý do chính đáng.
Cuộc đời Rama từ lúc tu tập thời niên thiếu cho đến những ngày cuối cùng khi rời trần thế như những bài học bằng xương, bằng thịt của bốn giai đoạn hướng về giải thoát. Đức hy sinh, nhẫn nhục, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường thực thi bổn phận cùng với tấm lòng chung thủy, chịu đựng của Sita trong những ngày bị lưu đầy, bị giam giữ, đạt được hạnh phúc và cả mất hạnh phúc, v.v. đều khít khao với triết lý nhân sinh của người Ấn Độ.
Lý tưởng đạo đức mà người Ấn Độ dùng làm khuôn vàng, thước ngọc định hướng cho cuộc sống đã được các nhân vật trong anh hùng ca thực thi, trong đó Rama và Sita thể hiện như những tấm gương thiêng liêng nhất mà người Ấn Độ vẫn thường nhắc nhở và sùng bái.
Đạo đức học Ấn Độ giáo, với tư cách là hệ thống những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức chính thống của người Ấn Độ đã khắc họa những dấu ấn đậm nét trong toàn bộ cuộc sống xã hội Ấn Độ ngay từ thời cổ đại.
1. Toàn bộ hệ thống đạo đức này gắn rất chặt với những sinh hoạt đời thường của con người vào sinh hoạt tôn giáo hữu thần. Ở đây, đạo đức không chỉ thiết lập những yêu cầu do tương quan giữa người với người mà còn thiết lập những yêu cầu do tương quan giữa người với các vị thần thiêng liêng của vũ trụ. Các vị thần này trong Ấn Độ giáo có nhiều thay đổi. Lúc đầu, đúng như Góocky nói về thời cổ đại, con người “… không hề nói đến thần thánh ăn không ngồi rồi. Đây là những thợ rèn, thợ sắt, người chăn nuôi súc vật, thủy thủ, nhạc công, thợ mộc; ngay cả những vị nữ thần cũng làm đủ mọi nghề: quay sợi, nấu ăn, chữa bệnh…”[31], nhưng sau đó công việc và uy thế của thần khác hẳn. Sự thay đổi này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Ta thừa nhận một phần là do kết quả sự thay đổi nhận thức của người cổ đại, nhưng chủ yếu là sự thay đổi và duy trì quyền lực của thần linh trên trời thực chất là duy trì và bảo vệ quyền lực của các “vị thần” đang cầm quyền trong cuộc sống hiện thực. Ở góc độ này, đạo đức học Ấn Độ giáo trở thành một công cụ cực kỳ hữu hiệu để đẳng cấp Bàlamôn bảo vệ địa vị và lợi ích của họ.
2. Đạo đức học Ấn Độ giáo là đạo đức đẳng cấp. Nhận xét của Will Durant hoàn toàn có cơ sở khi ông cho rằng: “Nếu một ngày nào đó không còn chế độ tập cấp nữa thì đời sống luân lý củ
a Ấn Độ sẽ bị xáo trộn, hỗn độn trong một thời gian lâu dài vì ở xứ đó luân lý gắn liền với tập cấp, mất cái này thì mất cái kia luôn…Là một người Ấn, không có nghĩa là theo một tôn giáo này hay theo một tôn giáo khác mà có nghĩa là một phần trong tập cấp nào đó…”[32].
Đạo đức đẳng cấp không phải là hiện tượng xã hội độc nhất chỉ có ở Ấn Độ, nhưng việc lý giải đẳng cấp bằng sự hóa thân của Thần Sáng tạo mà mỗi đẳng cấp là một phần cơ thể của vị thần đó và phải thực hiện những chức năng tương ứng với chức năng tiền thân của mình thì khó có thể tìm thấy ở các dân tộc khác.
Mặt khác, ranh giới cực kỳ khắt khe giữa các đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ dẫn đến cùng một hành động trong cùng một thời gian và không gian, nhưng ở đẳng cấp này là thánh thiện thì ở đẳng cấp khác là đê tiện cũng là ranh giới hiếm thấy trong lịch sử nhân loại. Cứ hình dung việc nghe và đọc Kinh Veda chẳng hạn. Việc làm này đối với người Bàlamôn là đáng kính trọng nhưng đối với người nô lệ thì đáng phỉ nhổ và kết quả là người nô lệ sẽ bị đổ chì vào tai hoặc bị cắt lưỡi v.v. thì mới thấy tính chất đặc thù trong nền đạo đức đẳng cấp khắc nghiệt của Ấn Độ giáo.
3. Đạo đức học Ấn Độ giáo gắn bó rất chặt chẽ với luật pháp và những hoạt động văn hóa mang tính quần chúng. Hầu như tất cả những yêu cầu thuộc đời sống đạo đức đều được thể hiện hết sức chi tiết trong bộ Luật Manou. Đặc biệt là bộ luật này trình bày dưới dạng vè nên rất dễ truyền khẩu và dễ nhớ.
Thể hiện yêu cầu đạo đức qua luật thì đời sống đạo đức từ chỗ mang tính tự giác bắt đầu được thực hiện bằng hình thức cưỡng chế, từ hành động mang tính tự do bắt đầu được thực hiện bằng những hành động mang tính bắt buộc; song chính cái cưỡng chế và bắt buộc ấy được lặp đi lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác đã dần dần tạo được thói quen của con người để chuyển sang tự giác và tự do theo đúng tính chất của cuộc sống đạo đức.
Mẫu người lý tưởng được người Ấn Độ xây dựng rất hình tượng qua những bản hùng ca, cũng rất dễ truyền khẩu và dễ nhớ.
Xét ở góc độ nào đó, đẳng cấp Bàlamôn đã không chỉ biết dùng sức mạnh tàn bạo của luật pháp đương thời mà con biết dùng cả sức mạnh rung động con tim nghệ thuật để thực hiện việc giáo hóa đạo đức. Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân cho thấy tại sao nhiều khía cạnh của đạo đức Ấn Độ giáo phản lại những giá trị mang tính nhân loại phổ biến đến như thế nhưng nó vẫn được người Ấn Độ chấp nhận và thực hiện.
4. Đạo đức Ấn Độ giáo là đạo đức hướng nội, đạo đức hành động. Khái niệm hướng nội ở đây muốn nói đến việc giải quyết những vấn đề thuộc tâm linh. Đây là xu hướng ngày càng rõ nét trong quá trình phát triển của Ấn Độ giáo.
Mục đích của Ấn Độ giáo là giải thoát, nhưng để giải thoát con người phải hiểu về mình, phải gạt bỏ những đam mê trần tục, tinh khiết hóa tiểu ngã để hòa đồng nó với tinh thần vũ trụ v.v.. Tất cả những cái đó đều bắt đầu từ nội tâm và hướng về nội tâm.
Thông thường, khi hướng về nội tâm, nhiều học thuyết chủ trương xuất thế, tách mình khỏi cuộc sống ồn ào, sôi động để tìm nơi cô tịnh tham thiền, làm bạn với cỏ cây, hoa trái. Ấn Độ giáo không thế. Nó khuyên con người hành động với chủ trương nhập thế. Trong bốn giai đoạn cuộc sống tìm đường giải thoát, theo Ấn Độ giáo, chỉ khi nào con người đã hoàn thành việc đời tức đã đạt được giàu sang, hưởng mọi thú vui trần thế, có con nối dõi tông đường thì khi đó con người mới bước vào giai đoạn “tự lột xác”. Như vậy, toàn bộ thời gian trẻ trung con người giành cho hành động và chỉ lui vào cuộc sống ẩn sỹ khi da đã nhăn, tóc đã bạc.
Hành động của Ấn Độ giáo là hành động thuần túy do nghề nghiệp và bổn phận của mình quy định, hành động với tất cả lòng thành tâm không cần xét đến phương tiện và mục đích của nó, hành động chỉ vì thấy phải hành động. Đấy cũng là hành động từ nội tâm và cũng vì nội tâm.
Will Durant miêu tả một số hành động thuộc loại này đã diễn ra ở Ấn Độ như sau: Sau khi chồng chết, những người quả phụ mong được chết trên nấm mồ của chồng để hoàn thành bổn phận của người vợ. Họ thường hiên ngang bước trên dàn hỏa. Người ta thêu sống hoặc chôn sống họ. Các tu sỹ Bàlamôn bảo hôn nhân là quan hệ vĩnh cửu, đàn bà đã theo chồng thì khi chồng chết cũng phải chết theo để sống chung với nhau trong những kiếp sau[33].
Như vậy, có những hành động vì bổn phận đã trở nên mù quáng. Xã hội chấp nhận nó là chấp nhận một tội ác và sự chấp nhận ấy hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp cũng đã gây ra tội ác. Ở đây, một trong những định hướng quan trọng nhất của đời sống đạo đức Ấn Độ giáo đã phản lại đời sống đạo đức với ý nghĩa chân chính của nó.
5. Nghi lễ tế tự giữ vai trò hết sức quan trọng trong đạo đức Ấn Độ giáo, nhưng nó cũng gây không ít phiền toái cho những người theo tôn giáo này.
Để đến được với thần linh, thân thẻ con người phải sạch sẽ nên việc tẩy uế trở thành việc làm thường xuyên đối với dân Ấn. Đối với những người bị coi là không trong sạch, nhẹ thì tưới nước thành; nặng thì nghi thức rối rắm, phức tạp hơn; thật nặng thì phải làm phép Panchagavia[34]. Những người bình thường đều phải nhảy xuống sông Hằng tắm rửa vào mỗi buổi sáng.
Vật để tế thần cúng đóng vai trò quan trọng trong tế tự bởi nó là một trong những biểu hiện của lòng thành. Trong bối cảnh xã hội còn thiếu thốn như thời cổ đại, con người phải dùng lương thực, thực phẩm, gia súc để ném lên lưỡi lửa của thần Agni và tiền trả công cho các nhà tư tế luôn là nỗi lo ám ảnh suốt đời với nhiều người dân Ấn. Khi vật tế thần chuyển sang là sinh mạng sống của con người thì tế tự đã trở nên man rợ.
Có thể nói đạo đức Ấn Độ giáo là sự pha trộn của nhiều yếu tố. Đời sống đạo đức ấy có cái cưỡng bức và tự giác; có cái thuộc về quá khứ, thuộc về hiện tại và thuộc cả về tương lai; có cái trần tục và thánh thiện, cái nghi thức và tâm linh, cái thần thoại và hiện thực sống động v.v..
Đạo đức Ấn Độ giáo đóng vai trò không nhỏ trong việc góp phần tạo ra nếp sống của người Ấn Độ, nếp sống trọng trách nhiệm trước nghề nghiệp và nghĩa vụ của mình theo một tôn ti trật tự nhất định, nhưng đạo đức Ấn Độ giáo cũng đã tạo ra sự hà khắc, nghiệt ngã dường như quá sức chịu đựng của nhiều người nên sớm muộn cũng sẽ có những trào lưu phản ứng lại nó.
Điều ấy đã xảy ra vào giữa thế kỷ VI trước Công nguyên với sự ra đời của đạo đức học Phật giáo, sự ra đời của một học thuyết mới khi Ấn Độ giáo chưa đạt đến giai đoạn phát triển cao nhất.

(Vũ Tình: Đạo đức học phương Đông cổ đại- Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998)

CHÚ THÍCH

1. Xem Lê Xuân Khoa: Nhập môn Triết học Ấn Độ, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1972, tr. 115-116.

2. Ananda K.Coomaswmy: Thư gửi cho Fr.Von Gentz (Trích lại từ: Lê Xuân Khoa: Nhập môn Triết học Ấn Độ, Sđd, tr.167).

3. Bhagavad Gita (phần Lời tựa của Swami Nikhilanada) Quảng Hóa, Sài Gòn, 1971, chương XVI.

4. Chandogya Upanishad, chương IV, các tiết 14,3.

5. Mundaka Upanishad, chương II, tiết 2.

6. Mundaka Upanishad, chương II, tiết 2.

7. Xem Bhagavad Gita, chương XVII, các tiết 4, 14, 17.

8. Bhagavad Gita, chương IV, tiết 12.

9. Bhagavad Gita, chương IV, tiết 31.

10. Xem Bhagavad Gita, Quảng Hóa, Sài Gòn, 1971, tr.LXXVII.

11. Bhavagad Gita, chương XVII, các tiết 18,19.

12. Xem Bhagavad Gita, chương XVII, tiết 21.

13. Xem

-          Thích Mãn Giác: Lịch sử triết học Ấn Độ, Ban tu thư viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1967, tr. 30-35.

-          Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử triết học phương Đông, tập 3, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr.78-82.

-          Nguyễn Thừa Hỷ: Ấn Độ qua các thời đại, Nxb. Giáo dục, 1986, tr.15-23.

14. Bhagavad Gita, chương XVII, các tiết 42,43,44.

15. Xem Bhagavad Gita, chương I, tiết 20.

16. Bahagavad Gita, chương XVIII, tiết 28.

17. Xem Bhagavad Gita, chương XVII, tiết 18.

18. Bhagavad Gita, chương XVII, tiết 19.

19. Xem Bhagavad Gita, chương XVII, tiết 21.

20. Tóm lược nội dung Bhagavad Gita và trích ý chương I, tiết 20; chương IV, tiết 7; chương VI, tiết 1; chương XIV các tiết 22, 23, 24, 25; chương XVIII các tiết 45, 46, 47.

21. Xem Lê Xuân Khoa: Nhập môn triết học Ấn Độ, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1972, tr. 191 – 193.

22. Bhagavad Gita, chương XVII, tiết 14.

23. Bhagavad Gita, chương VI, tiết 17.

24. Bhagavad Gita, chương VI, tiết 15.

25. Bhagavad Gita, chương XVII, tiết 15.

26. Xem: Bhagvavad Gita, chương XIII, các tiết 5,6,7,8,8,10,11.

27. Bhagavad Gita, chương III, tiết 38.

28. Bhagavad Gita, chương III, tiết 38.

29. Xem Bhagavad Gita, chương V, tiết 28, chương VI, các tiết 10, 12.

30. Xem Bhagavad Gita, chương XVIII, các tiết 37, 38.

31. Góocky: Bàn về văn học. Nxb Văn học, Hà Nội, 1965, t.II, tr.189.

32. Will Durant: Lịch sử văn minh Ấn Độ, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1966, tr.184-195.

     Tác phẩm của Will Durant nói trên do Nguyễn Hiến Lê dịch. Khi dịch ý này, Nguyễn Hiến Lê chú thích: “Chúng tôi dịch chữ caste là tập cấp để phân biệt với classe mà chúng ta dịch là giai cấp”. Toàn bộ nội dung khái niệm tập cấp mà Nguyễn Hiến Lê dùng là nội dung khái niệm varna trong Ấn Độ giáo ta gọi là đẳng cấp.

33. Xem Will Durant: Lịch sử văn minh Ấn Độ, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1996, tr.195 – 196.

34. Phép Panchagavia dùng tẩy ế những người phạm luật đẳng cấp. Trong lúc tế lễ, người được tẩy ế phải uống nước, trộn lẫn sửa lỏng, sữa cô đặc, bơ nước, nước tiểu và phân. Tất cả đều của bò cái.


                                                                                                                                  




































Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.