Nghiên cứu và giảng dạy đạo đức tại Nhật Bản

(Hiroike Chikuro và hoạt động của Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản)
Nguyễn Thu Hương [1]


11/3/2011, Nhật Bản bàng hoàng vì trận động đất sóng thần cùng với sự cố rò rỉ lò phản ứng hạt nhân khiến cho cả vùng đất rộng lớn chịu thảm họa, tuy nhiên cũng chính trong những thời khắc khó khăn đó, tinh thần Nhật Bản lại tỏa sáng hơn bao giờ hết. Thế giới đã và vẫn đang nghiêng mình thán phục và tự hỏi vì sao trong đói khát và lạnh giá người Nhật Bản vẫn có thể kiên nhẫn đứng xếp hàng chờ cấp phát lương thực, tại sao 50 người công nhân bao gồm cả ông giám đốc nhà máy điện nguyên tử Fukushima sẵn sàng ở lại nhà máy khắc phục hậu quả dù biết sau đó họ sẽ phải chết? Những hình ảnh ấy khiến toàn thế giới đặt ra câu hỏi: Người Nhật có thể giáo dục và giảng dạy con cái họ, dân tộc họ như thế nào để làm nên những con người như vậy?
Việc trả lời câu hỏi này có lẽ vô cùng ý nghĩa với đất nước Việt Nam chúng ta hiện nay, nơi mà những Lê Văn Luyện, Nguyễn Hải Dương xuất hiện ngày càng nhiều, những vụ hôi của, hôi bia và trộm cắp đang làm vẩn đục một hình ảnh một Việt Nam vốn nổi tiếng kiên cường và bất khuất, xinh đẹp và hào hùng. Làm thế nào để có thể phát triển kinh tế, hiện đại hóa đất nước nhưng vẫn duy trì được nền tảng đạo đức và văn hóa truyền thống của mình là một bài toán khó mà Nhật Bản phần nào đã giải quyết được. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài viết nhỏ, chúng tôi chỉ đề cập đến một trong rất nhiều cách đang được người Nhật áp dụng trong việc duy trì nền tảng đạo đức và văn hóa của họ, qua câu chuyện về nhà sáng lập Moralogy (đạo đức học) của Nhật Bản – Hiroike Chikuro (1866-1938) và những hoạt động cụ thể tại Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản của ông.
1. Tổng quan về giáo dục đạo đức tại Nhật Bản từ thời Minh Trị đến nay
Vào cuối thời Mạc phủ (1853-1867), đất nước Nhật Bản sau một thời gian dài bế quan tỏa cảng đã thực sự thức tỉnh dưới áp lực của các nước đế quốc phương Tây. Dưới thời Mạc phủ quyền lực chính trị thuộc về giới võ sĩ và triều đình chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Nhận thức được nguy cơ mất nước, lực lượng võ sĩ bậc thấp cùng các trí thức Tây học của Nhật Bản đã liên kết với thế lực quý tộc ủng hộ Thiên hoàng tiến hành đảo Mạc, chủ động học tập phương Tây để phát triển. Bước vào thời Minh Trị (1868-1912), xã hội Nhật Bản chuyển biến sâu sắc từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản cận đại, điều này làm nảy sinh một sự bất an, hỗn loạn về mặt tinh thần trong dân chúng. Thêm vào đó, giai đoạn này nền kinh tế suy thoái, nạn hạn hán, bão lụt liên tiếp xảy ra, nhiều nơi mà đặc biệt là vùng nông thôn lâm vào cảnh nghèo đói, ngay cả trẻ em cũng phải làm việc mới có cái ăn. Cả nước Nhật Bản lúc bấy giờ phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, thách thức, vừa phải phục hồi nền kinh tế, phát triển nhanh để tránh nguy cơ bị biến thành thuộc địa, vừa phải bảo tồn được bản sắc văn hoá của dân tộc. 
Đứng trước tình hình đó, chính phủ Minh Trị đã dựa vào tầng lớp trí thức mới tiến hành cải cách mạnh mẽ nhằm nhanh chóng cận đại hóa đất nước theo mô hình phương Tây. Giáo dục Nhật Bản cận-hiện đại được bắt đầu từ thời Minh Trị (1868-1912), mà cụ thể là chế độ giáo dục (HỌC CHẾ 学制) được ban hành vào năm 1872, được thay bằng (pháp lệnh giáo dục 教育令)vào năm 1879 rồi pháp lệnh cải cách giáo dục (改正教育令) năm 1880 và pháp lệnh trường học(学校令) năm 1886. Nền giáo dục Nhật Bản trong 10 năm đầu thời Minh Trị  đã du nhập mạnh mẽ các trào lưu tư tưởng cùng thành tựu khoa học kĩ thuật phương Tây nhằm đạt cho được mục tiêu “phú quốc cường binh”. Tuy nhiên, cụm từ “triết lý giáo dục” chưa xuất hiện trong các văn bản pháp luật liên quan tới giáo dục ở giai đoạn này. Có thể nói giáo dục Nhật Bản  trước 1945 chịu sự chi phối của triết lý được thể hiện trong “Sắc chỉ giáo dục” (教育勅語)do Thiên hoàng Minh Trị ban hành năm 1890 với những nội dung đạo đức mang màu sắc Nho giáo, chú trọng sự tu thân và sự tiếp nối văn hóa truyền thống. Cụ thể là những điều sau:

 
“Sắc chỉ giáo dục” (教育二関スル勅語)do Thiên hoàng Minh Trị ban hành năm 1890 với con dấu và chữ ký Thiên hoàng. Nguồn: http://www.meijijingu.or.jp/english/about/6.html

1. (孝行) Hiếu thảo với cha mẹ
2. (友愛) Hòa thuận với anh chị em
3. (夫婦ノ和) Giữ gìn hòa khí với vợ chồng 
4. (朋友ノ信) Tin tưởng bạn bè 
5. (謙遜) Khiêm tốn trong hành động và lời nói 
6. (博愛) Bác ái, yêu thương tất cả mọi người
7. (修学習業)Nỗ lực học tập để có nghề nghiệp trong tay
8. (智能啓発) Bồi dưỡng tri thức, phát triển tài năng
9. (徳器成就) Nuôi dưỡng đạo đức nâng cao nhân cách
10. (公益世務) Dốc lòng phục vụ cộng đồng
11. (遵法)Tuân thủ luật pháp và các quy định để duy trì trật tự xã hội
12. (義勇) Dũng cảm và tận tụy bảo vệ tổ quốc 
Nhìn chung sắc chỉ giáo dục này nhằm mục đích đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” hết lòng phụng sự Thiên hoàng bên cạnh việc nuôi dưỡng những đặc tính tốt đẹp của con người theo quan niệm Nho giáo. 
Tuy nhiên, “sắc chỉ giáo dục” bị quy kết là nguyên nhân hình thành nên những người Nhật Bản sẵn sàng liều mình vì Thiên hoàng và tiếp tay cho chủ nghĩa phát xít trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ II. Chính vì vậy, sau ngày 15/8/1945, đặt dưới sự chiếm đóng của quân đội Đồng minh (GHQ), Nhật Bản bị buộc phải tiến hành một cuộc cải cách toàn diện nhằm dân chủ hóa và phi quân sự hóa đất nước, cuộc cải cách được tiến hành trên nhiều mặt mà trước hết là thay đổi về triết lý giáo dục.
Triết lý của giáo dục sau chiến tranh được xác định bởi “Hiến pháp nước Nhật Bản” có hiệu lực từ ngày 3 tháng 5 năm 1947 (năm Showa thứ 22) và “Luật giáo dục cơ bản” được ban hành vào tháng 3 cùng năm. Đó không phải là kiểu “Sắc lệnh chủ nghĩa” đứng dưới danh nghĩa Thiên hoàng như thời trước chiến tranh mà là “pháp quyền chủ nghĩa” thông qua thảo luận giữa các đại biểu quốc hội do quốc dân bầu ra và dựa trên nền tảng luật pháp để tạo ra nền tảng giáo dục quốc dân. Giáo dục nghĩa vụ 9 năm gồm 6 năm tiểu học và 3 năm THCS được thực thi, nam nữ học chung. Trong cuộc cải cách này, từ tiểu học, THCS tới THPT, với tư cách là môn giáo khoa giáo dục nên những người công dân của xã hội dân chủ trong vai trò là người  nắm giữ chủ quyền quốc dân, môn Xã hội đã ra đời. Triết lý của nền giáo dục mới, nền giáo dục mà sau này người Nhật quen gọi là giáo dục dân chủ, được xây dựng dựa trên sự phản tỉnh sâu sắc về nền giáo dục trước chiến tranh và tiếp thu tinh hoa giáo dục Mĩ. Mục tiêu giáo dục giờ đây không phải là đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” mà là người CÔNG DÂN có đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Triết lý giáo dục này được ghi rõ trong các bộ luật luật về giáo dục được công bố trong năm 1947 như: Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học…[2] 
Trong Luật giáo dục cơ bản được Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006, chương I phần mục đích và triết lý giáo dục có nêu rõ mục đích của giáo dục là để “nhằm hoàn thiện nhân cách con người và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội-quốc gia hòa bình và dân chủ.”
Mục tiêu giáo dục là để 1.Trang bị văn hóa và tri thức rộng rãi, giáo dục thái độ truy tìm chân lý, nuôi dưỡng đạo đức và tình cảm phong phú đồng thời rèn luyện thân thể khỏe mạnh; 2.Tôn trọng giá trị cá nhân, mở rộng năng lực cá nhân, nuôi dưỡng tính sáng tạo và tinh thần tự lập, tự chủ đồng thời coi trọng mối quan hệ với nghề nghiệp và cuộc sống, giáo dục thái độ tôn trọng lao động; 3.Tôn trọng chính nghĩa và trách nhiệm, bình đẳng nam nữ, tôn kính và hợp tác lẫn nhau đồng thời giáo dục thái độ tham gia vào xây dựng xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội một cách chủ thể dựa trên tinh thần công cộng; 4.Có thái độ  tôn trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường; 5. Có thái độ tôn trọng truyền thống và văn hóa, yêu mến quê hương và đất nước chúng ta nơi đã nuôi dưỡng những thứ ấy đồng thời giáo dục thái độ tôn trọng nước khác, đóng góp vào hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế [3]. 
Tuy có thay đổi về nội dung, giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong các văn bản liên quan cho đến tận ngày nay. Chính vì vậy, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức tại Nhật Bản được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao. F. N. Kerlinger (1951) nhận định giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị vận hành theo triết lý “Shushin (tu thân)” và triết lý này vẫn còn ảnh hưởng cho đến giai đoạn sau chiến tranh. Theo Kerlinger tu thân chính là luân thường đạo đức hay những tiêu chuẩn về đạo đức v.v. tu thân chính là trọng tâm của chương trình giáo dục tại Nhật Bản, và cũng là trọng tâm trong cuộc sống người Nhật Bản [4].  Bassey Ubong (2011) cho rằng “Đạo đức còn có nghĩa là ý thức tuân thủ kỷ luật phản ánh qua quan niệm xem giáo dục là con đường dẫn đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính vì vậy mà thanh niên tích cực học tập, tuân theo các chuẩn mực về tôn trọng mọi người xung quanh và nhờ vậy giảm tỉ lệ thất nghiệp, mọi người đều tốt nghiệp và có việc làm”[5]. 
Nước Nhật đã và đang thực hiện một chương trình giáo dục đạo đức với mục đích lưu truyền những đặc tính tốt đẹp của dân tộc cho các thế hệ sau. Giáo dục đạo đức tuy không đưa thành một môn học cụ thể nhưng bao gồm trong toàn bộ chương trình giáo dục tại Nhật Bản. Chương trình được triển khai từ lớp 1 đến lớp 9 được phân ra làm 4 nhóm liên hệ từ gần đến xa:
1. Nhóm 1- liên quan đến bản thân
2. Nhóm 2- liên quan đến người khác
3. Nhóm 3- liên quan với nhóm, xã hội
4. Nhóm 4- liên hệ với tự nhiên và siêu nhiên.
Mỗi nhóm gồm nội dung kiến thức nâng cao dần, từ dễ đến khó, trình độ học sinh từ thấp (lớp 1-2) đến cao (lớp 7-9). Ví dụ 1: Nhóm Liên quan đến bản thân- Kiến thức lớp 1-2 là "Sự cần cù, chăm chỉ". Ở lớp 7-9 là "Yêu quý sự thật". Ví dụ 2: Nhóm Liên hệ với nhóm xã hội. Ở lớp 1-2 "Thương yêu kính trọng cha, mẹ, ông, bà". Ở lớp 7-9 là "Kính trọng và yêu quý người nước ngoài"...[6]. 
Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa vai trò của giáo dục đạo đức đối với công dân, Nhật Bản hiện đang dần hoàn chỉnh hệ thống sách giáo khoa và ngày càng chú trọng hơn đến giáo dục đạo đức tại nhà trường. Hiện nay, tại các trường tiểu học và trung học cơ sở công lập, mỗi tuần có một giờ đạo đức, tuy nhiên từ trước đến nay Nhật Bản chưa có sách giáo khoa đạo đức mà chỉ sử dụng tài liệu tham khảo hỗ trợ. Trong kế họach hiện tại Nhật Bản đã xây dựng xong bộ sách giáo khoa về giáo dục đạo đức và tiến hành đưa vào giảng dạy từ năm 2017 đối với bậc tiểu học, và từ năm 2018 đối với bậc THCS. Điều này đánh dấu một sự thay đổi lớn về vị trí của môn đạo đức trong giáo dục tại Nhật Bản. Bộ giáo dục Nhật Bản cũng đã hoàn thành việc kiểm định sách giáo khoa giảng dạy môn đạo đức trong nhà trường và từ năm 2016 mô hình giảng dạy đạo đức trên sách giáo khoa chuyên biệt sẽ được đưa vào áp dụng. 
Tuy nhiên, phải chăng giáo dục đạo đức chỉ là công việc của nhà trường? Phải chăng chỉ với một giờ học đạo đức có thể hình thành nên những con người Nhật Bản đúng chuẩn mực? Để có thể có cái nhìn đầy đủ về giáo dục đạo đức tại Nhật Bản, thiết nghĩ không thể bỏ qua được vai trò của gia đình, cộng đồng xã hội và vai trò của người đã khai sinh ngành đạo đức học tại Nhật Bản cũng như thành tựu của ông để lại cho hậu thế. 
2. Hiroike Chikuro (1866-1938) – người khai sinh Moralogy (đạo đức học) tại Nhật Bản
Hiroike Chikuro (廣池千九郎) sinh ngày  29 tháng 3  năm 1866 và trải qua thời niên thiếu tại thành phố Nakatsu tỉnh Oita. 
Ông sinh ra vào cuối thời Edo, chỉ hai năm trước khi Nhật Bản chuyển mình và bước vào thời Minh Trị, giai đoạn chủ trương học tập và xây dựng đất nước hùng mạnh, theo kịp với các nước Âu Mỹ vốn đã tiến rất xa thời bấy giờ. Cha mẹ ông cũng là một trong những người hiếm hoi rất coi trọng học vấn và cho ông được học hành đầy đủ, đây là cơ sở để những tài năng trong ông có điều kiện phát triển. Lúc thiếu thời ông là đứa trẻ hay đau ốm, và đã từng bị các bạn khác bắt nạt… đến năm 14 tuổi, sau khi hoàn tất việc học tập tại trường trung học cơ sở Nakatsu ông trở thành trợ giảng tại trường tiểu học Nagasoi. Năm 17 tuổi ông đến học tại Reitakukan do một nhân vật kiệt xuất thời bấy giờ là Ogawa Gansho (小川含章)[7]  thành lập và đã chịu ảnh hưởng rất lớn của nhân vật này, sau này ông lấy tên Reitakukan đặt cho trường dạy đạo đức của mình.  Năm 19 tuổi ông lấy được chứng chỉ hành nghề giáo viên chính thức và bắt đầu sự nghiệp giáo viên tại trường tiểu học Nakatsu. Ông tích cực hoạt động trên nhiều lĩnh vực, rất nhiệt huyết trong việc phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 1886 ông mở trường ban đêm để dạy cho các trẻ em nghèo không có cơ hội đến trường, năm 1888 chấp bút viết quyển “Tân biên Tiểu học tu thân dụng thư” (新編小学修身用書Sách rèn luyện đạo đức cho bậc tiểu học), năm 1891 sáng lập tổ chức “Hội giáo dục công lập tỉnh Oita” bao gồm hội hỗ trợ, cải thiện đời sống cho giáo viên đầu tiên của Nhật Bản, mặc dù xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ ít ai quan tâm đến giáo dục, địa vị xã hội của người giáo viên cũng rất thấp. Chikuro ôm ấp  lý tưởng dùng giáo dục để thay đổi địa phương, nỗ lực không ngừng để biến những ước mơ của mình thành hiện thực [8].

  
TS. Hiroike Chikuro

Dù làm gì, ở đâu ông luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người học, đối với ông giáo dục không phải là “dạy” mà là “gợi mở, nuôi dưỡng”, không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức mà còn là làm lay động tâm hồn người học, khiến bản thân người học thấy mình ngày một trưởng thành hơn. Lòng nhiệt huyết của ông đã làm thay đổi không những bản thân học trò của mình mà còn làm thay đổi cả bố mẹ họ và cả những người xung quanh, vượt qua khuôn khổ của cách giáo dục tại Nhật Bản từ trước đến nay, giáo dục không còn gói gọn sau cánh cổng nhà trường mà còn lan rộng ra toàn thể xã hội, thực hành giáo dục suốt đời. 
Giai đoạn đầu thời Minh Trị, Nhật Bản đang ở trong ranh giới của sự chuyển biến từ văn hoá truyền thống sang văn hoá phương Tây, việc xác định được bản sắc văn hoá dân tộc Nhật, quyết định bảo tồn và phát yếu yếu tố truyền thống Nhật Bản như thế nào trong sự kết hợp với văn minh phương Tây là một nhiệm vụ của cả đất nước Nhật Bản thời bấy giờ, đồng thời cũng là một nhiệm vụ suốt đời của một nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đồng thời là một học giả như Hiroike Chikuro [9].  
Chikuro bắt đầu rời Nakatsu để đến sống ở Kyoto với vai trò là một nhà sử học. Ông tự lập ra tạp chí phổ cập sử học (史学普及雑誌社) phát hành tạp chí lịch sử cho người dân đứng trên quan điểm một nhà giáo dục. Để mọi người dễ hiểu, trong tạp chí của ông có rất nhiều hình ảnh trên loại giấy có chất lượng rất tốt. Tuy nhiên, xã hội Nhật Bản thời bấy giờ đang trong cuộc chiến với nhà Thanh mà ít quan tâm đến lịch sử. Đây cũng là giai đoạn ông lâm vào cảnh khó khăn về mặt kinh tế. Mặc dù vậy ông cũng vẫn tiếp tục các cuộc điều tra điền dã tiếp xúc với những tinh hoa văn hóa của Nhật Bản và bắt đầu tìm hiểu lịch sử hoàng thất Nhật Bản để lại nhiều tác phẩm có giá trị. 
Ông dời đến sinh sống tại Tokyo và bắt đầu đi theo con đường của một học giả thực thụ. Đối với ông, trở thành học giả cũng là một cách tu thân, và đó cũng là nơi ông tỏa sáng. Lòng say mê nghiên cứu của ông cũng đã được giới thiệu trên báo chí thời bấy giờ và đó cũng chính là con đường đưa ông đến với môi trường nghiên cứu tại ĐH Waseda hay Jingukougakukan (Thần cung hoàng học quán, ĐH Kogakukan ngày nay). 
Bên cạnh đó ông cũng là người tiên phong trong việc viết về lịch sử địa phương, cuốn “Lịch sử Nakatsu” (中津歴史) sau đó ông lại góp phần biên soạn “Cổ sự loại uyển” (古事類苑 Tự điển bách khoa sử liệu lớn nhất Nhật Bản) và bắt đầu khai thác lĩnh vực mới là “Lịch sử pháp chế Đông Dương” (東洋法制史) và có rất nhiều đóng góp trong học thuật. Năm 1929, ông đã lấy bằng tiến sĩ Luật tại Đại học Đế quốc Tokyo (Đại học Tokyo ngày nay) bằng con đường tự học, cũng là người đầu tiên xuất thân từ tỉnh Oita lấy được học vị này. Ông chính là nhà giáo dục, nhà nghiên cứu đóng góp vào sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn cận đại hóa của Nhật Bản [10]. 
 Tuy nhiên, sau bao nhiêu nỗ lực cố gắng để đạt được học vị này, ông mắc một căn bệnh nan y mà bác sĩ cũng không thể chữa trị được, chỉ còn chờ chết. Cũng chính điều này đã giúp ông có dịp nhìn nhận lại ý nghĩa của cuộc đời mình và có một tâm nguyện là nếu được sống ông sẽ dành toàn bộ kiến thức và sức lực của mình để nghiên cứu các phương pháp và nguyên tắc cần thiết nhằm mang lại hạnh phúc cho toàn thể nhân loại.  
Ông cống hiến hết mình cho các hoạt động đóng góp cho xã hội Nhật Bản thời bấy giờ vốn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, đời sống người dân hết sức khó khăn, nhiều người phải chịu đói. Ông luôn tiếp xúc với cuộc sống khổ sở của người dân và luôn suy nghĩ tìm cách để làm cho đời sống người dân được tốt hơn. Sau thành công của cách mạng tháng 10 Nga, tư tưởng cộng sản chủ nghĩa đã có ảnh hưởng rất nhiều đến Nhật Bản, đặc biệt là sự đối lập về quyền lợi giữa giai cấp tư bản và phần lớn nhân dân lao động trong nước. Giữa tình hình ấy ông lại chủ trương mang đến “sự hoà bình, an tâm cho tất cả mọi người”. Để thực hiện được điều này không chỉ giải quyết vấn đề từ phía người lao động mà cần phải tác động từ nhiều phương diện, đến cả đến giới tư bản, giới chính trị, nhà tư tưởng v.v. Ông cho rằng cần phải giải quyết vấn đề từ cả phía người lao động lẫn giới tư bản. Về phía người lao động, ông tiến hành giáo dục cho họ hiểu về nghề nghiệp và ý thức nâng cao hiệu suất trong công việc, còn đối với phía người kinh doanh thì xây dựng trường học trong công ty, cung cấp nơi học tập cho người lao động, áp dụng các chế độ như hình thành Hội cứu tế để kịp thời ứng phó khi có bệnh tật hay tai nạn xảy ra [11].  
Cho đến những năm cuối đời, mặc dù bệnh tật, ông vẫn luôn cho thấy tinh thần hoạt động không mệt mỏi, lập các cơ sở đào tạo và giảng dạy tại đây.  Năm 1935, ông cho xây dựng trường giảng dạy đạo đức cho tất cả mọi đối tượng, cả nam và nữ tại vùng Hikarigaoka, thành phố Kashiwa tỉnh Chiba. 
Không những thế ông còn đến vùng suối nước nóng Tanigawa để xây dựng một cơ sở nghỉ dưỡng và trị liệu [12].  Hiroike đã từng nói “Con người có ba căn bệnh lớn nhất đó là căn bệnh tinh thần, vật chất và thể xác, bất kỳ người nào cũng đều mắc một trong ba căn bệnh này vì vậy nếu có thể tìm được cách chữa bệnh thì mới có thể đạt được sự bình an. Khoa học về đạo đức có thể giúp chữa được căn bệnh về tinh thần và vật chất, nhưng nếu muốn có được sự bình an và hạnh phúc thật sự cần phải có một nơi giúp chữa căn bệnh thể xác”. Được xây dựng từ 1937, trong suốt 75 năm qua cơ sở này đã hoạt động đúng như tâm nguyện của ông, trở thành nơi trị liệu cho cả tâm hồn và thể xác của con người và là nơi tổ chức các buổi tập huấn nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực có đạo đức phục vụ cho xã hội. 
Ông qua đời vào năm 1938 tại tỉnh Gunma, hưởng thọ 72 tuổi [13].   
Xuất thân là một nhà giáo, trải qua con đường nghiên cứu học thuật lịch sử, văn hoá Nhật Bản và trải qua bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống, Hiroike Chikuro đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng đạo đức trong tâm hồn nhằm mang lại hoà bình và hạnh phúc thật sự cho mọi người trên thế giới. Những nghiên cứu của ông không chỉ ở những bộ sách đồ sộ mà ông lưu lại cho hậu thế mà còn là những hoạt động cụ thể triển khai trên nhiều lĩnh vực, có sức ảnh hưởng sâu rộng trên toàn đất nước Nhật Bản và vẫn được tiếp tục duy trì đến tận ngày nay. 
3. Moralogy (đạo đức học) và hoạt động của Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản
Từ Moralogy là một từ có nguồn gốc từ tiếng La tinh do Hiroike Chikuro sáng tạo ra, bắt nguồn từ chữ “mores” có nghĩa là “morality” (đạo đức) và tiếp vị ngữ  ~logy (có nghĩa là khoa học) , moralogy có nghĩa là một ngành khoa học về đạo đức hay có thể gọi là “đạo đức học”. Trong giai đoạn từ năm 1915 trở đi ông thường dùng thuật ngữ Moral Sciences trong các bài diễn thuyết của mình, và năm 1926 đã hoàn thành tác phẩm “Luận về đạo đức học” (道徳科学の論文), sau khi hoàn thành ông tiến hành ngay việc dịch tác phẩm sang tiếng Anh, và bắt đầu sử dụng từ mới là Moralogy thay cho từ được dịch trực nghĩa sang tiếng Anh là Moral Sciences, và tiến hành dạy Moralogy trong dân chúng.  
Tuy phổ biến và giảng dạy đạo đức không phải là một con đường dễ dàng, trong suốt thời Đại Chính (1912-1926) ông đã thực hiện hơn 1000 ngày thuyết giảng về nội dung này mặc dù điều này khiến ông lâm bệnh và để lại chứng suy nhược thần kinh nặng. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục hoạt động không mệt mỏi, bên cạnh tiếp thu tinh hoa tư tưởng Đông phương ông cũng đã bổ sung rất nhiều tư tưởng mới từ phương Tây và nhận được sự hỗ trợ của rất nhiều người. Không những thế ông còn thành lập trường chuyên dạy về đạo đức cho hai đối tượng, một là học sinh và hai là đủ mọi thành phần trong xã hội. 
Trường chuyên dạy khoa học đạo đức là một trường hiếm hoi thời bấy giờ dạy học cho cả nam và nữ. Khắp nơi trong trường được treo những tấm bảng ghi lại bút tích của Hiroike Chikuro là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và sinh hoạt của học sinh trong trường. Nội dung những câu nói này là lời dạy của hiền nhân, cổ điển Trung Quốc hay những nhắc nhở liên quan đến sinh hoạt hàng ngày. Trên giảng đường lớn là lời răn của Mạnh Tử  “天爵を修めて人爵之に従”(từ câu gốc là: Tu kỳ thiên tước, nhi nhân tước tùng chi có nghĩa tu sửa thiên tước của mình mà nhân tước theo đến) và nơi phòng ăn treo câu “大学の道は明徳を明らかにするに在り” (từ câu gốc là: Đại học chi đạo tại minh minh đức có nghĩa đạo đại học là ở chỗ làm sáng tỏ đức sáng) trích từ Đại học của Tăng Tử, hai điều này có thể xem là triết lý giáo dục của Hiroike Chikuro, trên con đường rèn luyện phẩm chất đạo đức cao nhất, nhằm xây dựng hoà bình cho thế giới. Ông cũng xây dựng một thư viện đồ sộ gồm 32.000 đầu sách đã được sử dụng làm tư liệu nghiên cứu.
Hiroike Chikuro không còn nữa, nhưng tinh thần, tư tưởng của ông và di sản ông để lại cho người Nhật Bản là vô giá và sau gần 1 thế kỷ, người Nhật Bản vẫn tiếp tục kế thừa tiếp nối những thành tựu mà ông đã để lại.
Từ năm 1935, trường chuyên dạy về khoa học đạo đức của Hiroike Chikuro đã được thành lập và duy trì cho đến ngày nay, trường dạy cho học sinh nay trở thành Viện giáo dục Hiroike (Hiroike Institute of Education) và trường dạy cho mọi thành phần trong xã hội nay trở thành Viện nghiên cứu đạo đức (Institute of Education). Bài viết này đề cập đến mô hình này như một gợi ý cho việc nghiên cứu và giảng dạy đạo đức tại Việt Nam hiện nay. 
Viện giáo dục Hiroike chịu trách nhiệm quản lý Đại học Reitaku, trường PTTH và PTCS Reitaku, trường PTTH và PTCS Mizunami Reitaku và trường mẫu giáo Reitaku. Tất cả các trường đều được dạy trên triết lý giáo dục được xây dựng trên nền tảng khoa học đạo đức với mục tiêu nhằm tạo nên những công dân toàn cầu, vừa có tri thức, vừa có đạo đức, những nhân tài có nhiệm vụ xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. 
Viện nghiên cứu đạo đức có chi nhánh văn phòng chính nằm tại Kashiwa thuộc tỉnh Chiba trong một khuôn viên rộng lớn với tổng diện tích lên đến 460.000 m2. Viện quản lý 2 trung tâm giáo dục suốt đời nằm tại Mizunami tỉnh Gifu và Date tỉnh Fukushima cùng 12 chi nhánh văn phòng đặt ở khắp nơi trên đất nước Nhật Bản, phụ trách các thành viên đến từ 47 tỉnh thành trong cả nước. Ngoài ra, viện còn sở hữu nhà tưởng niệm Hiroike Chikuro ở Tanigawa tỉnh Gunma, Hatake tỉnh Shizuoka và Nakatsu tỉnh Oita. Tính đến ngày 1/4/2015, số nhân viên của Viện là 262 người, với 46.000 thành viên tham gia thường xuyên từ khắp các tỉnh thành. Kinh phí hoạt động thường niên đến từ các thành viên, các tổ chức từ thiện và kinh phí có được từ việc tổ chức các buổi hội thảo, seminar, các buổi học kết hợp với nghỉ dưỡng hay kinh phí đến từ các ấn phẩm được xuất bản của Viện. Tất cả mọi công dân từ 18 tuổi trở lên đều có thể đăng ký để trở thành hội viên. 
Mục tiêu mà Viện nghiên cứu đạo đức nhắm đến là giúp con người nhận ra hạnh phúc, hòa bình và sự an nhiên trong tâm hồn thông qua việc nghiên cứu khoa học đạo đức và xuất bản sách. Viện cũng chủ trương xây dựng nhà nước thông qua đào tạo nguồn nhân lực bằng việc tổ chức các buổi hội thảo, giáo dục cộng đồng v.v. Những nội dung hoạt động chủ yếu bao gồm 6 nội dung: nghiên cứu Moralogy, giáo dục cộng đồng dựa trên tư tưởng Moralogy, xuất bản và phát hành có liên quan đến Moralogy, hỗ trợ công tác giáo dục dựa trên Moralogy, tiến hành các hoạt động phúc lợi xã hội cho người cao tuổi dựa trên triết lý Moralogy và các hoạt động cần thiết khác phục vụ cho mục đích của Viện. 
Các hoạt động của Viện rất đa dạng, bên cạnh những hoạt động chung của Tổng Viện còn là các hoạt động riêng của từng văn phòng đóng tại các tỉnh thành cả nước. Có các mảng chủ yếu là nghiên cứu, giáo dục đào tạo, hoạt động cộng đồng và xuất bản.
Trong lĩnh vực nghiên cứu, Viện nghiên cứu đạo đức sở hữu trung tâm nghiên cứu khoa học đạo đức (Research center for Moral Sciences) được thành lập vào năm 1926 chuyên thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, giáo dục đào tạo và xuất bản. Đây cũng là nơi thường xuyên tổ chức các hội thảo, các buổi nói chuyện chuyên đề liên quan đến những vấn đề đạo đức, văn hóa truyền thống của Nhật Bản. Điều này thu hút sự quan tâm không chỉ của những học giả Nhật Bản mà cả những học giả nước ngoài. Tại đây lại được chi thành 5 phòng nghiên cứu chịu trách nhiệm về nhiều vấn đề như nghiên cứu về tư tưởng của Hiroike Chikuro nói riêng, tư tưởng đạo đức và văn hoá truyền thống Nhật Bản trong so sánh với các quốc gia khác hoặc những vấn đề đạo đức trong xã hội đương đại v.v. 
Tại các trung tâm giáo dục suốt đời đặt tại 3 địa điểm cùng những cơ sở đặt trên toàn đất nước Nhật Bản thành viên có thể được tham gia các buổi hội thảo, seminar liên quan đến tư tưởng đạo đức của Hiroike Chikuro, học để hiểu tư tưởng ấy đồng thời để hiểu cách áp dụng những tư tưởng ấy vào cuộc sống như thế nào? 
Trong hoạt động cộng đồng lại chia ra thành từng nhóm đối tượng khác nhau như: doanh nghiệp, những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục, người cao tuổi, phụ nữ, thanh thiếu niên v.v.
Đối với các đối tượng đến từ doanh nghiệp là các buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm cho những người đang làm kinh doanh dựa trên tinh thần đạo đức và kinh doanh là một. Nhằm hướng tới kinh doanh bền vững dựa trên chữ tín chứ không phải kinh doanh chạy theo lợi nhuận, lấy sự hài lòng của khách hàng và đối tác là kim chỉ nam cho hoạt động kinh doanh v.v.
Với đối tượng là các giáo viên, những người làm việc trên lĩnh vực giáo dục, viện Nghiên cứu đạo đức hàng năm tổ chức các buổi tập huấn, nói chuyện chuyên đề dành riêng cho đối tượng này nhằm mục đích tiến hành giáo dục theo phương châm đạo đức và tri thức là một, giáo dục đạo đức gắn liền với truyền đạt tri thức. Những sinh hoạt như thế này được hình thành dựa trên cơ sở hoạt động của Hội nghiên cứu giáo dục vốn được hình thành từ năm 1963.
Với đối tượng là phụ nữ, Viện nghiên cứu đạo đức tổ chức nhiều hoạt động để mọi người có thể tham gia như các hoạt động tình nguyện, các lớp hướng dẫn về cách nuôi dạy con cái, mà đặc biệt là cách để lưu truyền truyền thống và nét đẹp về đạo đức từ thế hệ người lớn tuổi sang thế hệ con cháu. 
Với đối tượng thanh thiếu niên, Viện nghiên cứu đạo đức thành lập riêng một mạng lưới các hoạt động dành cho thanh thiếu niên với tên gọi MANY (Moralogy Active Network of Youth) với 3 nội dung chính: học tập tốt (bao gồm học về Moralogy, học lịch sử và những buổi seminar dành cho đối tượng thanh thiếu niên), họat động tốt (bao gồm các hoạt động thiện nguyện, các cuộc vận động v.v.), đoàn kết tốt (đại hội thanh niên toàn quốc tập hợp thanh niên trên toàn Nhật Bản trong 1 ngày cùng học tập, trò chuyện và cùng hứa hẹn xây dựng một gia đình hạnh phúc, một xã hội thân thiện và một quốc gia hùng mạnh, giao lưu thanh niên trong cùng 1 khối v.v.). Các em cũng tham gia cuộc thi viết luận về “Mối gắn kết trong gia đình”, tham gia hoạt động cộng đồng như làm sạch môi trường sống, làm sạch bãi biển.


Đại hội thanh niên toàn quốc năm 2015 do khối Joshinetsu tổ chức. PGS.TS.Võ Văn Sen, Hiệu trưởng 
ĐH KHXH&NV TP HCM đại diện cho khách mời đến từ ĐHQG-HCM


Trong lĩnh vực xuất bản nhằm mục đích phổ biến tư tưởng của Hiroike Chikuro, thực hiện đúng theo tôn chỉ của Viện và để  phục vụ cho các lớp học tùy từng đối tượng, Viện nghiên cứu đạo đức phát hành rất nhiều sách và giáo trình riêng biệt cho từng nhóm. Giáo trình này được sử dụng trong các buổi học hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai có quan tâm. Ngoài ra nhà xuất bản còn phát hành tạp chí New Moral, Reiro và Dokeijuku từng tháng gửi đến từng hội viên. Tạp chí New Moral mỗi tháng theo một chủ đề cụ thể gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân từ việc gắn kết tình thương yêu giữa các thành viên trong gia đình đến sự quan tâm đối với xã hội và những người xung quanh, các mối quan hệ giữa người với người nơi làm việc v.v. Các gia đình có những buổi sinh hoạt trong gia đình mình và mọi người cùng đọc và trao đổi ý kiến về những câu chuyện được đề cập đến trong tạp chí. Reiro là tạp chí phục vụ cho nhiệm vụ học tập suốt đời, được hình thành dựa trên những triết lý căn bản của Moralogy, nhằm tạo ra những con người giàu tính nhân văn, có đạo đức và hình thành nên một thế hệ sống có tâm. Dokeijuku phát hành 2 tháng 1 lần dành cho đối tượng làm kinh doanh, với nhiều bài viết liên quan đến các câu chuyện thành công của giới kinh doanh dựa trên tư tưởng kinh doanh gắn có đạo đức nhằm mục đích phụng sự xã hội. Bên cạnh đó là các loại lịch nuôi dưỡng tâm hồn, mỗi ngày trong tuần đều trích dẫn một câu nói của Hiroike Chikuro kèm lời giải thích để giúp mọi người có thể rèn luyện đạo đức, suy nghĩ về đạo đức mọi lúc, mọi nơi. 
Không chỉ hoạt động trong nước Viện nghiên cứu đạo đức đã có địa điểm tại Mỹ, Brazil, Hàn Quốc, Đài Loan và Nigeria… phục vụ cho các đối tượng nước ngoài có quan tâm đến tư tưởng của Hiroike Chikuro và hoạt động nghiên cứu giáo dục, phổ biến các vấn đề đạo đức học. Tại Việt Nam, Viện nghiên cứu đạo đức cũng đã mối quan hệ với trường ĐH KHXH & NV từ những năm 1997, đưa những học sinh trung học Nhật Bản sang giao lưu với sinh viên Khoa Đông phương học. Sau một khoảng thời gian gián đoạn, từ khi Bộ môn Nhật Bản học thành lập từ năm 2010 đến nay, khối Joshinetsu thuộc Viện nghiên cứu đạo đức thường xuyên sang giao lưu hàng năm với Bộ môn Nhật Bản học. Cùng tham gia tổ chức Lễ hội tháng Năm, cùng tổ chức cuộc thi tìm hiểu Văn hóa Nhật Bản mà cụ thể là viết cảm nhận bằng tiếng Nhật về những câu chuyện liên quan đạo đức Nhật Bản được đăng trong tạp chí New Moral. Khối Joshinetsu cũng đã cử nhiều giáo viên đến giảng dạy về các đề tài liên quan đến văn hóa Nhật Bản như nghệ thuật giấy truyền thống, kiến trúc và hội họa Nhật Bản v.v. 
4. Kết luận
Trên đây bài viết chỉ có điều kiện trình bày đến một trong rất nhiều những mô hình nghiên cứu và giảng dạy đạo đức tại Nhật Bản. Xuất phát từ tư tưởng của Hiroike Chikuro, một nhà giáo dục, nhà khoa học, một học giả đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục đạo đức từ những năm đầu tiên của thời Minh Trị và đã xây dựng những nền tảng cơ bản của ngành khoa học này mà ngày nay những thế hệ tiếp nối mới có thể phát triển rộng khắp trên toàn đất nước Nhật Bản với những hoạt động phong phú đến như vậy. Mô hình này cũng cho chúng ta thấy cần có một cái nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu và giảng dạy đạo đức, đạo đức không chỉ là lĩnh vực riêng của giới học thuật mà làm thế nào để những tư tưởng đạo đức ấy được nhiều thành phần, nhiều tầng lớp trong xã hội tiếp cận, hiểu và áp dụng được mới là điều quan trọng. Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản đã và đang thực hiện rất tốt vai trò đó. 
Hy vọng là quan bài viết này cũng phần nào giúp chúng ta trả lời được câu hỏi: Vì sao người Nhật có thể hành động khác các dân tộc khác trong những giây phút cam go nhất giữa sự sống và cái chết? Và vì sao Nhật Bản là đất nước hiện đại vào bậc nhất thế giới nhưng vẫn bảo tồn được những tinh hoa văn hóa tinh thần và đặc tính tốt đẹp của dân tộc từ hàng nghìn năm qua? Giáo dục đạo đức không chỉ là công việc của nhà trường mà rất cần sự phối hợp từ nhiều phía, của gia đình và xã hội và cần lắm việc sớm hình thành một Viện nghiên cứu đạo đức của Việt Nam. Càng nỗ lực hội nhập quốc tế và hiện đại hóa công nghiệp hóa bao nhiêu thì tầm quan trọng của việc nghiên cứu đạo đức và tinh hoa văn hóa tinh thần Việt Nam, bảo tồn truyền thống Việt Nam lại càng trở nên quan trọng bấy nhiêu. Trung tâm nghiên cứu đạo đức vừa mới được thành lập tại Trường Đại học KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh với mong mỏi sẽ trở thành viên gạch đầu tiên trong công cuộc xây dựng dài hơi đó. 
Nguyễn Thu Hương


Chú thích:

1. Phó Trưởng Bộ môn Nhật Bản học, PGĐ Trung tâm Nghiên cứu đạo đức Trường ĐH KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh. (Bài đã đăng trong Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội trong trường phổ thông tỉnh Đồng Tháp” do tỉnh Đồng Tháp phối hợp với ĐH KHXH & NV Tp. Hồ Chí Minh tổ chức năm 2015).
2. Nguyễn Quốc Vương (2014), Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào: (http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/nhat-ban-cai-cach-giao-duc-nhu-the-nao-2988237.html).
3. http://law.e-gov.go.jp/htmldata/H18/H18HO120.html教育基本法(平成十八年十二月二十二日法律第百二十号 (Luật giáo dục cơ bản do chính phủ Nhật Bản công bố năm 2006 (Bản dịch của Nguyễn Quốc Vương).
4. Fred N. Kerlinger (1951), The Modern Origin of Morals Instruction in Japanese Education, History of Education Journal Vol. 2, No. 4 (Summer, 1951), tr. 119-120.
5. Bassey Ubong (2011), Bassey Ubong (2011), National philosophies of education and impact on national development, Proceedings of the 1st International Technology, Education and Environment Conference (c) African Society for Scientific Research (ASSR).
6. NGƯT Châu An (2011) , Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản - Đôi điều suy nghĩ, Viện nghiên cứu giáo dục Trường ĐHSP TP.HCM http://www.ier.edu.vn/content/view/474/186/)
7. Ogawa Gansho (1812 - 1894) là đệ tử xuất sắc của một nhà Nho học nổi tiếng thời bấy giờ đồng thời bản thân cũng là một nhà Hán học, là người sáng lập Reitakukan, là nơi Hiroike vào làm việc sau khi thi không đỗ để lấy chứng chỉ Sư phạm để trở thành giáo viên. Tinh thần trân trọng văn hoá truyền thống, luôn nghĩ đến lợi ích quốc gia và tương lai của Nhật Bản của ông đã gây ảnh hưởng rất sâu sắc đến Hiroike. (ND) http://www.hiroike-chikuro.jp/yukari_hito/01a.htm
8.  Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.2
9. Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.3
10. Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.4-5
11. Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.10.
12. http://www.hiroike-chikuro.jp/life/index.htm
13. http://tg.moralogy.jp/?page_id=13

 
Tài liệu tham khảo:

1.Fred N. Kerlinger (1951), The Modern Origin of Morals Instruction in Japanese Education,History of Education Journal Vol. 2, No. 4 (Summer, 1951), pp. 119-126.
2. ODAJIMA Satoru (2005), A Study on the Relations between the Imperial Rescript on Education and Moral Education), Department of Japanese and Comparative Culture School of Japanese Culture, Bulletin of Meisei University. (小田嶋 (2005)  悟教育勅語」と「道徳教育」について  東海大学課程資格教育センター教育学研究室)
3. Bassey Ubong (2011), National philosophies of education and impact on national development, Proceedings of the 1st International Technology, Education and Environment Conference (c) African Society for Scientific Research (ASSR). 
4. Christina Reiter (2014), Japanese Education and the Transition of Morals, (http://exhibits.uky.edu/education/JPN-405-Fall-2014/reiter.htm)
Websites: 
1. http://eng.moralogy.jp/qa (Trang web chính thức bằng tiếng Anh của Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản)
2. http://moralogy.jp/ (Trang web chính thức bằng tiếng Nhật của Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản)
3. http://rc.moralogy.jp/ (Trang web về hoạt động nghiên cứu của Viện)
4. http://edu.moralogy.jp/index.html (Trang web về hoạt động giáo dục của Viện)
5. http://many.moralogy.net/ (Trang web về hoạt động dành cho đối tượng thanh thiếu niên) 
6. http://www.syakaikyouiku.gr.jp/data/moralogy.htm (Trang web dữ liệu về hoạt động giáo dục cho mọi thành viên trong xã hội)
7. http://www.ier.edu.vn/content/view/474/186/ (NGƯT Châu An (2011) , Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản - Đôi điều suy nghĩ, Viện nghiên cứu giáo dục Trường ĐHSP TP.HCM)
8. https://thonsau.wordpress.com/2014/07/20/luat-giao-duc-co-ban/ (Nguyễn Quốc Vương (2014), Luật giáo dục cơ bản Bản dịch từ trang web Bộ giáo dục Nhật Bản) 
9. http://phapluattp.vn/ho-so-phong-su/ngam-nghi-triet-ly-giao-duc-cua-cac-nuoc-bai-2-nhat-bangiao-duc-dao-duc-la-cot-loi-496198.html (Đại Thắng, Ngẫm nghĩ triết lý giáo dục của các nước - Bài 2: Nhật Bản:“Giáo dục đạo đức” là cốt lõi)
10. http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/nhat-ban-cai-cach-giao-duc-nhu-the-nao-2988237.html (Nguyễn Quốc Vương (2014), Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào)
11. http://dl.ndl.go.jp/info:ndljp/pid/2945456/3 1890年(明治23年)10月31日付『官報』”. 国立国会図書館デジタル化資料. (Thông báo liên quan đến Sắc chỉ giáo dục của Thiên hoàng Minh trị công bố trên báo chí triều đình, số ngày 31 tháng 10 năm 1890.Tư liệu điện tử của Thư viện Quốc hội Nhật Bản)
12. http://law.e-gov.go.jp/htmldata/H18/H18HO120.html 教育基本法(平成十八年十二月二十二日法律第百二十号)(Luật giáo dục cơ bản do chính phủ Nhật Bản công bố năm 2006
 
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.