Mối quan hệ giữa triết học đạo đức và triết học pháp quyền trong triết học Immanuel Kant

(TS. Ngô Thị Mỹ Dung: Tạp chí Khoa học xã hội, Viện KHXH vùng Nam bộ, số 05, 2007, tr. 17 -21)

Với tinh thần phê phán, tính chặt chẽ trong lập luận của Kant cùng với việc nghiên cứu con người như một chủ thể độc lập, chủ thể tự quyết và chủ thể ban hành luật, triết học Kant đã đưa triết học cổ điển Đức nói riêng và triết học phương Tây nói chung lên một tầm cao mới. 
Những tư tưởng triết học của ông, nhất là tư tưởng về triết học đạo đức và triết học pháp quyền đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu triết học, luật học và nhân học trên toàn thế giới. Trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi chỉ có thể trình bày một cách khái quát nhất nội dung tư tưởng của triết học đạo đức học Kant và sự triển khai những tư tưởng đó trong  triết học pháp quyền của ông. 

1. Nội dung cơ bản của triết học đạo đức của Kant
Triết học đạo đức được Kant xem là mục đích tối hậu của triết học, bởi nó giải đáp vấn đề: tôi cần phải làm gì, hay chính xác hơn là tôi cần phải làm gì để xứng đáng với phẩm giá làm người?  
Kant cho rằng để có thể hành động có đạo đức thì điều đầu tiên cần phải làm là nhận thức đúng về những giá trị đạo đức. Những giá trị đó - theo Kant - không nằm trong đối tượng cũng như mục đích nhằm đạt tới của hành vi mà nằm trong nguyên tắc của ý chí (Prinzip des Willens). Chỉ những hành vi xuất phát từ một ý chí tốt (ein guter wille) mới được coi là hành vi đạo đức, bởi “không có gì trên thế giới hay thậm chí ngoài thế giới có thể được gọi là tốt mà không có giới hạn, ngoại trừ một ý chí tốt (Kant, Immanuel, 1983, tr. 204).
Giá trị của một hành vi được thể hiện trong những nguyên tắc chủ quan tối cao (subjektive Maximen) của chủ thể hành động, và những nguyên tắc  này phải phù hợp với một qui luật đạo đức chung xuất phát từ lý tính. 
Qui luật đạo đức là một yêu cầu tự thân, một mệnh lệnh tuyệt đối. Khác với những mệnh lệnh giả thiết (hypothetischer imperativ) - những mệnh lệnh tương đối hay còn được gọi là những mệnh lệnh của sự khôn khéo và của sự thông minh - là những mệnh lệnh có được nhờ kinh nghiệm của cuộc sống nhằm giúp con người đạt được hạnh phúc, mệnh lệnh tuyệt đối (kategorischer imperativ) tự nó là một qui luật thực tiễn, là mệnh lệnh vô điều kiện (Kant, Immanuel, 1983, tr. 231 – 233).  
Qui luật đạo đức mang tính hình thức, là khuôn mẫu cho mọi hành vi đạo đức của con người. Tính hình thức của mệnh lệnh tuyệt đối quyết định tính chất của ý chí, và ý chí lấy hình thức của qui luật đạo đức làm tôn chỉ hành động. Sự tự trị của ý chí (Autonomie des Willens) là nguyên tắc duy nhất của tất cả các qui luật đạo đức và của những trách nhiệm tương ứng với những qui luật đó. Sự tự trị được thể hiện ở sự độc lập (Unabhaengigkeit) của ý chí và sự tự ban hành luật (Selbstgesetzgebend). Kant cho rằng “qui luật đạo đức không diễn tả gì khác ngoài sự tự trị của lý tính thuần túy, nghĩa là, của tự do, và sự tự quyết này là điều kiện hình thức của tất cả các nguyên tắc hành động, nhờ đó mà nó có thể tự thích ứng với qui luật thực hành tối cao” (Kant, Immanuel, 1983, tr. 45). 
Sự tự trị của ý chí là nguyên tắc cao nhất của tính chất đạo đức và là cơ sở của phẩm giá con người. Sự tự trị cũng chính là tự do, là điều kiện để con người hành động có đạo đức và ngược lại nhờ hành động có đạo đức con người mới biết rằng mình có tự do. Không có tự do, như vậy cũng sẽ không có qui luật đạo đức ở trong chúng ta” (Kant, Immanuel, 1983, tr. 10). 
Mệnh lệnh tuyệt đối mang tính phổ biến, tức là sự phù hợp giữa những nguyên tắc chủ quan của chủ thể hành động với lý tính chung, và được diễn tả một cách chung nhất như sau: “hãy chỉ hành động như thể nguyên tắc tối cao của hành động của anh qua ý chí của anh cần phải trở thành qui luật phổ biến” (Kant, Immanuel, 1983, tr. 255). 
Mệnh lệnh tuyệt đối trên nói rằng, những nguyên tắc chủ quan tối cao của chủ thể hành động phải có những tính chất để có thể đồng thời có giá trị áp dụng cho mọi thực thể có lý tính trong hoàn cảnh tương tự. Nếu nguyên tắc chủ quan tạo ra mâu thuẫn, hành vi đó là vô đạo đức. Ngược lại, nếu nguyên tắc đó có thể áp dụng cho mọi trường hợp tương tự, thì đấy là hành vi đạo đức. Kant cho rằng một nguyên tắc tối cao không thể đáp ứng được mệnh lệnh tuyệt đối, khi theo nguyên tắc đó, người ta được phép dối trá, bởi khi người ta muốn lời nói dối, người ta hoàn toàn không thể muốn rằng, lời nói dối phải trở thành một qui luật phổ quát. 
Một hành vi đạo đức là một hành vi thực hiện từ sự tôn trọng đối với qui luật đạo đức.  “Sự tôn trọng qui luật đạo đức là động lực đạo đức duy nhất và đồng thời là động lực không thể chối cãi được” (Achtung fuers moralische Gesetz ist die einzige und zugleich unbezweifelte moralische Triebfelder) (Kant, Immanuel, 1983, tr. 97). 
Kant cho rằng tôn trọng qui luật đạo đức là tôn trọng phẩm giá con người. Tất cả kết quả của mọi công việc do sự khéo léo hay năng khiếu của con người đem lại đều có giá trị thị trường và có thể so sánh hay trao đổi được, nhưng giá trị đạo đức, cái tồn tại trên phẩm giá con người là “mục đích tự nó” (Selbstzweck) thì không thể so sánh hay mua bán, trao đổi được (Kant, Immanuel, 1983, tr. 252). 
Khẳng định giá trị tuyệt đối của con người, mệnh lệnh tuyệt đối của Kant được thể hiện dưới dạng hình thức: “hãy hành động như thể anh cần nhân loại, trong bản thân anh cũng như trong mỗi một con người, mọi lúc là mục đích, chứ không bao giờ chỉ là phương tiện” (Kant, Immanuel, 1983, tr. 246). Mệnh lệnh tuyệt đối này chỉ ra rằng con người thực hiện trách nhiệm vì sự tôn trọng chính bản thân mình và sự tôn trọng phẩm giá con người. “Con người và nói chung mọi hữu thể có lý tính tồn tại là mục đích tự nó, không chỉ là phương tiện được sử dụng tùy tiện bởi ý chí này hay ý chí khác, mà phải xem trong mọi hành vi của nó đối với chính bản thân cũng như đối với những hữu thể lý tính khác mọi lúc đồng thời là mục đích” (Kant, Immanuel, 1983, tr. 244).  
Xuất phát từ quan điểm cho rằng sự tự quyết của ý chí được dẫn dắt bởi lý tính là đòi hỏi tối cao và là điều kiện của mọi hành vi đạo đức, Kant đi đến kết luận rằng đạo đức chỉ có thể thông qua tự do, có nghĩa là thông qua khả năng của một hành động, mà hành động đó không bị quyết định bởi các hành động khác theo nguyên tắc nhân quả, mà chỉ bị quyết định bởi chính nó.
Tuy nhiên Kant cũng khẳng định rằng tự do không được đảm bảo bởi bằng chứng của tri thức khoa học, mà chỉ có thể được đảm bảo bởi niềm tin tiên nghiệm mà niềm tin này dựa trên nguyên tắc: tôi có thể nếu tôi cần phải. Tôi cảm nhận trong tôi qui luật đạo đức có thực như thế nào, thì tôi tin vào khả năng để tuân theo qui luật đạo đức là có thực như vậy, và tôi cũng tin vào các điều kiện để có thể làm điều đó, chính là quyền tự quyết và tự do là có thực như vậy.
Như vậy, trả lời cho câu hỏi mà triết học đạo đức đã đặt ra, Kant cho rằng con người cần phải tin là có tự do để có thể thực hiện được những hành vi đạo đức của mình theo một qui luật chung mà nguyên tắc tối cao của nó là sự tôn trọng phẩm giá của con người.
2. Triết học pháp quyền của Kant – sự tiếp tục triển khai những nguyên lý của triết học đạo đức trong thực tiễn 
Triết học pháp quyền là một lĩnh vực trong đạo đức học ứng dụng (angewandte Ethik) c ủa Kant, là sự tiếp tục triển khai những nguyên lý đạo đức trong thực tiễn đời sống sinh hoạt của con người. 
Trong tác phẩm  “Siêu hình học của đạo đức” (1797), Kant cho rằng: Triết học đạo đức (Moralphilosophie) và triết học pháp quyền (Rechtsphilosophie) đều là những học thuyết về trách nhiệm (Pflichten) nhưng giữa chúng có sự khác biệt rõ rệt. Trong khi triết học đạo đức nói về trách nhiệm bên trong (innere Pflichten), thì triết học pháp quyền chỉ quan tâm đến trách nhiệm bề ngoài (aeußere Pflichten) có thể cưỡng chế được của hành vi mà không hỏi đến quan niệm đạo đức, cái mà từ đó các trách nhiệm được thực hiện hay vi phạm (Kant, Immanuel, 1977, tr. 23 – 24).  
Khác với trách nhiệm bề ngoài có thể cưỡng chế được của hành vi, trách nhiệm bên trong xuất phát từ động cơ của chủ thể hành động. Động cơ đó dựa trên nguyên tắc của ý chí, nghĩa là nó phải xuất phát từ một ý chí tốt tuyệt đối, một ý chí tự trị. Kant cho rằng có thể có những hành vi phù hợp với trách nhiệm nhưng chưa hẳn là hành vi đạo đức, nếu trách nhiệm đó không đồng thời là động cơ của hành vi. Động cơ của chủ thể hành động là cơ sở để phân biệt tính đạo đứctính hợp pháp của hành vi, giữa sự tự nguyện khuất phục qui luật đạo đức và sự phù hợp với cái mà pháp luật đòi hỏi (Kant, Immanuel, 1977, tr. 23). 
Mặc dù  triết học đạo đức và triết học pháp quyền ở Kant được xem là hai lĩnh vực độc lập với nhau, nhưng chúng cùng có chung một đối tượng nghiên cứu, đó là vấn đề tự do. Tuy nhiên trong khi triết học đạo đức tìm cách giải thích khái niệm tự do là gì, con người có tự do hay không, nhằm hướng con người sống và hành động có đạo đức, thì triết học pháp quyền lại đề cập đến vấn đề, tự do do đâu mà có, và làm thế nào để có thể đảm bảo được quyền tự do đó? 
Kant cho rằng nguyên tắc tối cao của đạo đức là sự tự trị của ý chí, và sự tự trị của ý chí chính là tự do, vì vậy một hành vi xuất phát từ sự tự trị của ý chí cũng chính là hành vi tự do và là cơ sở của phẩm giá con người (Kant, Immanuel, 1983, tr. 254).  
Phẩm giá con người - đó là một trong những nội dung cơ bản của đạo đức mà nguyên tắc của nó là: “Hãy hành động như thể anh cần nhân loại, trong bản thân anh cũng như trong mỗi một con người, mọi lúc là mục đích, chứ không bao giờ chỉ là phương tiện” (Kant, Immanuel, 1983, tr. 246). 
Thông qua khái niệm về sự tự trị của ý chí, tự do và phẩm giá con người, Kant muốn khẳng định rằng con người là tự do, và tự do là sự thể hiện phẩm giá con người. Nhưng tự do có được từ đâu? Kant lập luận rằng tự do có được từ quyền bẩm sinh (das angeborene Recht) và quyền do pháp luật đem lại (das erworbene Recht) (Kant, Immanuel, 1977, tr. 55). 
Sự tự do bẩm sinh là sự độc lập đối với tất cả các luật ban hành, là quyền mỗi người tự nhiên mà có (Kant, Immanuel, 1977, tr. 55). Trong trạng thái tự nhiên, con người có thể tự do tranh chấp, kiềm chế lẫn nhau trong các lĩnh vực đời sống của họ, nhưng theo Kant, đó là sự tự do hoang dã. Chỉ khi chuyển sang trạng thái xã hội con người mới có được tự do thực sự của mình thông qua pháp luật. 
Pháp luật là tổng thể những điều kiện nhằm cưỡng chế hành vi tùy tiện của con người thông qua quy luật phổ biến của tự do nhưng vẫn đảm bảo tự do cá nhân thông qua những điều kiện này (Kant, Immanuel, 1977, tr.54).  Thông qua pháp luật con người có được tự do, đó là “sự độc lập đối với sự độc đoán cưỡng bức của những người khác" (Kant, Immanuel, 1977, tr.43). 
Gắn liền với quyền tự do là trách nhiệm pháp lý (die Rechtspflichten) của mỗi người trong xã hội. Khác với cách hiểu thông thường (chịu sự trừng phạt khi gây ra hậu quả xấu), trách nhiệm pháp lý ở Kant là nghĩa vụ của mỗi người đối với chính mình và với mọi người. Với chính mình, hãy là một con người biết nhận thức về quyền của mình trong mọi quan hệ xã hội. Luôn khẳng định giá trị của mình là giá trị của một con người, không tự làm mình chỉ trở thành phương tiện, mà đối với người khác hãy đồng thời là mục đích. Với mọi người không làm điều gì bất công, phải đối xử đúng luật và hãy tránh xa những mối liên hệ, những tổ chức gây bất công cho người khác (Kant, Immanuel, 1977, tr. 56).  
Để có thể đảm bảo được quyền và nghĩa vụ trên cần phải có một nhà nước hợp lý, trong đó quyền lập pháp phải thuộc về công dân, quyền tư pháp do đại diện công dân bầu ra thông qua bầu cử tự do và ba quyền lực nhà nước cần phải độc lập với nhau. Bởi chính phủ cộng hòa tồn tại dựa trên nguyên tắc phân tách quyền lực nên Kant cho rằng chỉ hình thức nhà nước này mới có thể đảm bảo tự do cá nhân mà không cản trở quyền tự do của những người còn lại. 
Nhìn chung tư tưởng pháp quyền Kant được đề cập một cách có hệ thống từ việc phân tích khái niệm pháp quyền theo đòi hỏi của lý tính thực tiễn, nghĩa là theo qui luật của tự do, đến quan hệ pháp quyền và phương thức thực hiện nó thông qua quyền lực nhà nước. Theo Kant quyền con người có được từ luật tự nhiên và luật ban hành, và một trong những quyền đó là quyền tự do. Gắn liền với quyền là trách nhiệm đối với bản thân và với cộng đồng, không bao giờ để mình chỉ trở thành phương tiện mà luôn đồng thời là mục đích và cũng không bao giờ sử dụng người khác chỉ như là phương tiện để đạt được mục đích của mình. Để bảo vệ quyền làm người hiện hữu duy nhất đó thì quyền lập pháp phải thuộc về nhân dân và ba quyền lực nhà nước phải độc lập với nhau.
Nhìn một cách khái quát chúng ta nhận thấy rằng tư tưởng pháp quyền của Kant luôn gắn liền với những tư tưởng đạo đức mà nguyên tắc cơ bản của nó là giá trị tuyệt đối của con người trong mọi quan hệ xã hội. Sự khẳng định giá trị người xuất phát từ quyền làm người và nghĩa vụ của mỗi người đối với bản thân, với mọi người, thực chất là sự thể hiện tư tưởng về giá trị tuyệt đối và nguyên tắc tôn trọng phẩm giá con người trong tư tưởng triết học đạo đức của Kant. 
Tuy nhiên trong luật hình sự, nhằm bảo vệ nguyên tắc công bằng của sự trừng phạt, Kant đã tán thành hình phạt tử hình bởi ông cho rằng nếu công lý lụi tàn thì cuộc sống của con người trên trái đất này chẳng có giá trị gì. Như vậy giữa tư tưởng của triết học đạo đức và triết học pháp quyền đã có sự mâu thuẫn, và đấy là một trong những hạn chế của triết học Kant.   
Mặc dù triết học đạo đức và  triết học pháp quyền đều là những học thuyết bàn về trách nhiệm nhưng theo Kant chúng độc lập với nhau. Trong khi triết học đạo đức nói về trách nhiệm bên trong, về động cơ của hành vi, thì pháp luật chỉ quan tâm đến trách nhiệm bề ngoài có thể cưỡng chế được của hành vi mà không hỏi đến quan niệm đạo đức, cái mà từ đó các trách nhiệm được thực hiện hay vi phạm. 
Kant cho rằng là “một thực thể lý tính” con người cần sống hướng tới giá trị đạo đức tối cao (hoechstes Gut): sự hợp nhất giữa cảm nhận hạnh phúc và đức hạnh (Glueckseeligkeit und  Tugend), và xây dựng một “vương quốc tự do” (Reich der Freiheit) là mục đích chung của toàn nhân loại. Pháp quyền là một trong những phương thức hướng con người tiến dần đến sự hoàn thiện đó. Vấn đề cơ bản nhất mà Kant quan tâm trong triết học đạo đức và triết học pháp quyền là vấn đề tự do và cùng với nó là quyền và phẩm giá con người. Tự do là quyền tự nhiên và là quyền làm người của mỗi chúng ta. Để đảm bảo quyền tự do đó mỗi người phải nhận biết quyền và nghĩa vụ của mình, không bao giờ để bản thân mình hay bất cứ ai chỉ trở thành phương tiện mà luôn đồng thời là mục đích. Mặt khác quyền tự do đó cần phải được đảm bảo bằng pháp luật và quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước phù hợp nhất có thể đảm bảo quyền tự do của con người là hình thức chính phủ cộng hòa với quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp độc lập với nhau.
Mặc dù còn nhiều hạn chế (không đề cập đến bản chất giai cấp của pháp quyền, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính, coi ý chí thuần túy là nguyên tắc của hành động, ...) nhưng những tư tưởng của Kant về giá trị tuyệt đối của con người cũng như phương thức để có thể đảm bảo được quyền và phẩm giá con người trong triết học đạo đức và triết học pháp quyền của Kant sẽ mãi mãi đọng lại trong lịch sử tư tưởng văn minh nhân loại. 
Ngô Thị Mỹ Dung

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2006. Triết học cổ điển Đức: Những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia. 
2. Kant, Immanuel. 1983. Grundlegung der zur Metaphysik der Sitten. Verlag Philipp jun. Leipzig.
3. Kant, Immanuel. 1983. Kritik der praktischen Vernunft. Verlag Philipp jun. Leipzig.
4. Kant, Immanuel. 1977. Metaphysik der Sitten.  Frankfurt am Main.
 
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.