Đạo đức cá nhân trong quan điểm Phật giáo

(Vũ Tình: Đạo đức học phương Đông cổ đại- Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998)

Theo Phật giáo, vì nghiệp lành, nghiệp dữ, cuộc sống hiện tại của mỗi người không giống nhau nên mặc dù những vấn đề thuộc đạo đức cá nhân cũng đều xoay quanh thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp của con người như Ấn Độ giáo, những yêu cầu đặt ra đối với mỗi người cũng không giống nhau.
Có thể hình dung Đức Phật đã đề cập đến những yêu cầu đạo đức đối với hai loại người cơ bản: người đời và phật tử.
Đối với người đời, Đức Phật đã nêu ra những yêu cầu đạo đức rất chi tiết trong bảy quan hệ cơ bản trong cuộc sống đời thường, là: Quan hệ giữa con cái đối với cha mẹ; quan hệ thầy trò; quan hệ vợ chồng; quan hệ bạn bè; quan hệ với bề trên; quan hệ với bề dưới; quan hệ giữa nô bộc với chủ.
1. Quan hệ giữa con cái đối với cha, mẹ
Đức Phật dạy: “… Có năm cách người con phải phải phụng dưỡng cha mẹ… là: Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ giữ gìn gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời… Được con phụng dưỡng như vậy… cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp; cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của cải thừa tự cho con [1].
Đại đức Narada Thera giải thích câu “tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ” là “con làm công việc thay thế cha mẹ”[2].
2. Quan hệ thầy trò
Đức Phật dạy: “… Có năm cách đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng… là: Đứng dậy; hầu hạ sư trưởng; hăng hái học tập; tự phục vụ sư trưởng; chú tâm học hỏi nghề nghiệp… Được đệ tử phụng dưỡng, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyện; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; dạy cho thuần thục mọi loại nghề nghiệp; khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; đảm bảo nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt”[3].
Đại đức Narada Thera giải thích những phẩm hạnh này như sau:
“Học trò đối với thầy có bổn phận:
- Luôn luôn tỏ ra cung kính thầy.
- Trông nom, săn sóc thầy.
- Chăm chỉ, nghe lời thầy dạy.
- Khi thầy cần, phải hết lòng giúp đỡ.
- Kính cẩn thọ nhận lời thầy dạy bảo.
Thầy được trò tôn kính và đối đãi như thế thì phải thương tưởng học trò và có bổn phận:
- Ra sức dạy trò biết tôn trọng kỷ luật.
- Cố làm cho trò lãnh hội được lời mình dạy.
- Dạy những môn kỹ thuật và khoa học thích hợp.
- Tiến dẫn trò vào giới thân cận của mình để trò giao thiệp.
- Đào tạo trò thành người hoàn thiện trên mọi phương diện”[4].
3. Quan hệ vợ chồng
Đức Phật dạy: “… Có năm cách người chồng phải đối xử với vợ … là: Kính trọng vợ; không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang cho vợ… Được người chồng đối xử như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; kheo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc”[5].
Đại đức Narada Thera giải thích:
“Chồng đối với vợ có bổn phận:
- Luôn luôn nhã nhặn thanh cao với vợ.
- Không khi nào tỏ ý khinh rẻ vợ.
- Luôn luôn trung thành với vợ.
- Giao quyền hành cho vợ.
- Mua sắm đồ nữ trang cho vợ.
Vợ được chồng đối đãi như vậy phải biết thương chồng và có bổn phận:
- Làm tròn phận sự trong nhà.
- Vui vẻ, tử tế với quyến thuộc của chồng.
- Luôn luôn trung thành với chồng.
- Giữ gìn cẩn thận những đồ trang sức và trông coi của cải trong nhà.
- Luôn luôn siêng năng, không khi nào tháo trúc (lười biếng, trốn tránh – TG) công việc”[6].
4. Quan hệ bạn bè
Đức Phật dạy: “… bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn luôn giúp đỡ…; người bạn chung thuỷ trong khổ cũng như trong vui… người bạn khuyên lời lợi ích… người bạn có lòng thương tưởng…”[7].
“Đức Phật giải thích:
- Người giúp đỡ bạn bè là người che chở cho bạn, che chở tài sản cho bạn khi bạn cô đơn, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, giúp đỡ tiền của gấp đôi số tiền khi bạn cần.
- Người bạn chung thuỷ là người nói cho bạn biết điều bí mật của mình, giữ gìn bí mật của bạn, không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn, dám hy sinh thân mình vì bạn.
- Người bạn khuyên lời lợi ích là người ngăn chặn bạn không làm điều ác, khuyến khích bạn làm điều thiện, nói cho bạn nghe điều bạn chưa được nghe, cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên.
- Người bạn có lòng thương tưởng là người hoan hỷ khi bạn gặp may mắn, ngăn chặn những ai nói xấu bạn, khuyến khích những ai tán thưởng bạn”[8].
5. Quan hệ với bề trên
Đức Phật quan niệm bề trên là các vị Sa Môn và các vị Bàlamôn. Đức Phật dạy: “Có năm cách quan hệ với bề trên là: Có lòng từ trong hành động về thân, có hành động từ trong hành động về khẩu, có hành động từ trong hành động về ý, mở rộng cửa để đón các vị ấy, cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết”[9].
Tư tưởng cơ bản của Đức Phật là khuyên con người hãy hành động, nói năng, suy nghĩ với đầy lòng thương ái đối với các bậc Sa Môn và Bàlamôn, vui vẻ tiếp đón và giúp đỡ họ.
6. Quan hệ với bề dưới
Đức Phật quan niệm bề dưới là những người nô bộc và dạy rằng: Có năm cách ứng xử với họ là “… Giáo việc đúng theo sức của họ; chăm lo cho họ cả về ăn uống và tiền lương; chữa chạy cho họ khi bệnh hoạn; chia sẻ các mỹ vị và thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép”[10].
7. Quan hệ của nô bộc với chủ
Đức Phật dạy: “… Phải thương yêu đối với chủ nhân theo năm cách, là: Dậy trước khi chủ dậy, đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật đã cho; khéo làm các công việc; đem danh tiếng tốt đẹp về cho chủ”[11].

Như vậy, những mối quan hệ cơ bản nhất trong cuộc sống đời thường đã được Phật giáo đề cập đến rất chi tiết.
Vũ Tình


1. Kinh giáo thọ Thi ca la việt (Singalovadasutta), mục 28.
2. Xem Narada Thera: Đức Phật và Phật pháp, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr.561.
3. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 29.
4. Narada Thera: Đức Phật và Phật pháp, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr.561-562. 5. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 30.
6. Narada Thera: Đức Phật và Phật pháp, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 562.
7. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 21.
8. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 22, 23, 24, 25.
9. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 33.
10. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 32.
11. Kinh Giáo thọ Thi ca la việt (Singolavadasutta), mục 32.
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.