Tham luận Hội thảo quốc tế

Đạo đức học trong chương trình đào tạo CTXH với chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH

 

Tham luận tại Hội thảo quốc tế:
“Nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hoá dịch vụ công tác xã hội”
(Racing the Standart of the Social Work Education Toward the Professionaliszation of Social Work Services) 
Bài đăng toàn văn trong Kỷ yếu Hội thảo ISBN 978 – 604 – 73 – 3344 – 2
                     
Xuất phát từ việc xác định công tác xã hội là một trong những lĩnh vực liên quan nhiều nhất, trực tiếp nhất đến đạo đức và xét cho đến cùng, đạo đức là một trong những thành tố quan trọng nhất thể hiện bản chất của công tác xã hội; xuất phát từ tầm quan trọng của tri thức khoa học về đạo đức nhưng tại Việt Nam các vấn đề thuộc lĩnh vực đạo đức chỉ chiếm một phần nhỏ trong một môn học; tác giả trình bày quan điểm của mình về sự cần thiết phải thận trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ để đảm bảo tính nhân văn của công tác xã hội, đề xuất đưa Đạo đức học thành một môn học như những môn học khác trong chương trình đào tạo và cũng đề xuất nội dung của môn học này với tư cách là “Đạo đức học ứng dụng” dựa trên bối cảnh cụ thể ở Việt Nam và những yêu cầu đạo đức của người làm công tác xã hội ở Việt Nam cần có.
 Social work is determined as one of the most important and relevant fields to ethics. Morality is one of the most important elements that descirbes theessence of the social work. However, the issues of the moral realm are only a small part in the course of Vietnam. The author proposes to Ethics as a main subject in the education program and also offers the content of subject as “Ethics Application” based on the ethical requirements of social work and specific conditions in Vietnam.

 Khi xác định đối tượng tác động của công tác xã hội là cá nhân, gia đình và cộng đồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội và mục đích của công tác xã hội là vừa giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, vừa thúc đẩy các điều kiện xã hội để các đối tượng này tiếp cận được với các chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng những yêu cầu cơ bản của cuộc sống [1] thì đây là một trong những lĩnh vực liên quan nhiều nhất, trực tiếp nhất đến đạo đức của người thực hiện công tác này và xét cho đến cùng, đạo đức là một trong những thành tố quan trọng nhất thể hiện bản chất của công tác xã hội.
Nếu quay trở về với nguồn gốc ngôn ngữ của khái niệm “đạo đức” ở các quốc gia được coi là cái nôi văn minh, văn hoá phương Tây và phương Đông thì ở Hy Lạp, “đạo đức” bắt nguồn từ “ethicos” với nghĩa “tập tục” [2]; ở Trung Quốc, “đạo” là “đường”, “đức” là “sự biểu hiện của đạo” – “đạo đức” là sự biểu hiện con người đi đúng đường của mình, với nghĩa là thực hiện đúng theo những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra đối với các quan hệ xã hội [3]; ở Ấn Độ, “đạo đức” bắt nguồn từ “dharma” với nghĩa hẹp là “kỷ luật” và nghĩa rộng là “bổn phận mà con người phải làm trong cuộc sống” [4]. 
Từ nghĩa gốc ban đầu ấy, cho đến nay đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức; song, về bản chất, đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, những chuẩn mực mà nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình trong các quan hệ cho phù hợp với yêu cầu của xã hội đương thời. 
Việc nhận thức và tự giác thực hiện được những nguyên tắc, những chuẩn mực ấy tạo nên đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng xã hội. 
 Đạo đức cá nhân hay đạo đức cộng đồng có cấu trúc rất phức tạp; song, nếu nhận thức một cách khái quát nhất nó được thể hiện ở ba yếu tố cơ bản là “ý thức đạo đức”, “hành vi đạo đức” và “quan hệ đạo đức”.  
Ý thức đạo đức là ý thức của con người về các vấn đề thuộc lĩnh vực đạo đức. Hành vi đạo đức là hành động của con người thể hiện ý thức đạo đức. Khi hành vi đạo đức được thực hiện, con người đã tạo nên các quan hệ đạo đức. Như vậy, trong ba yếu tố trên, ý thức đạo đức là yếu tố chi phối hai yếu tố còn lại. 
Bản thân ý thức đạo đức lại được cấu thành bởi “tri thức đạo đức”, “tình cảm đạo đức” và “lý tưởng đạo đức”, trong đó, tri thức đạo đức là quan trọng nhất, nó quyết định hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức và tất cả những biểu hiện còn lại trong đời sống đạo đức của con người. 
Tri thức đạo đức có thể chia thành hai cấp độ: Cấp độ “tri thức kinh nghiệm về đạo đức” và cấp độ “tri thức khoa học về đạo đức”.
Tri thức kinh nghiệm về đạo đức 
gắn liền với cuộc sống đời thường của con người, nó là kết quả của quá trình con người quan sát một hiện tượng đạo đức nào đó hay thực hiện một hành vi đạo đức nào đó lặp đi lặp lại nhiều lần. Loại tri thức này thường định hướng cho con người nói theo, làm theo những gì mà người khác nói, người khác làm nhưng không hiểu bản chất các mối liên hệ và các mối liên hệ bản chất, không hiểu về sự tác động có tính hệ thống mà các hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức đem lại. 
Tri thức kinh nghiệm về đạo đức có nhiều ưu việt nhưng không sâu sắc nên nó thường không có tác dụng cao, thậm chí không có tác dụng hoặc phản tác dụng khi môi trường, hoàn cảnh và các mối liên hệ của con người thay đổi. Hạn chế này của tri thức kinh nghiệm về đạo đức buộc chúng ta phải nhìn nhận ít nhất một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Trong giai đoạn hiện nay, khi tốc độ của quá trình toàn cầu hoá ngày càng tăng; khi cách mạng khoa học - công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ; khi thế giới đang ở thời kỳ chuyển tiếp từ văn minh công nghiệp sang văn minh hậu công nghiệp trong nền kinh tế tri thức từng bước hình thành thì sự biến động về tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống xã hội diễn ra hết sức nhanh chóng. Nếu dừng lại ở tri thức kinh nghiệm về đạo đức, con người sẽ không đáp ứng được yêu cầu phải thích ứng với những biến động của quá trình phát triển này.
Thứ hai: Xét cho đến cùng, mọi quan điểm về đạo đức đã có từ trước cho đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế, “con người dù tự giác hay không tự giác, rốt cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn …, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [5]. Tình hình kinh tế, những quan hệ kinh tế trong đó con người sản xuất và trao đổi của các quốc gia, các dân tộc rất khác nhau; khác nhau cả về mức độ thu nhập, quy mô sản xuất, cách thức sản xuất, cách thức trao đổi, v.v. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến sự khác nhau về những quan điểm đạo đức. Nếu dừng lại ở tri thức kinh nghiệm, con người sẽ không đáp ứng được yêu cầu phải giải quyết những vấn đề nảy sinh từ sự khác nhau này trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập. 
Tri thức khoa học về đạo đức là một bộ phận của tri thức khoa học. 
Tri thức khoa học không hình thành một cách tự phát; nó chỉ là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu, tổng kết, đúc kết thực tiễn trên nền tảng một vốn kiến thức nhất định và con người phải có một năng lực tư duy nhất định – năng lực hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá trên cơ sở nhận thức được từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất, từ ngẫu nhiên đến tất nhiên, v.v . Khi thực hiện một hành vi, một hoạt động nào đó hay tiếp cận với một đối tượng nào đó, tri thức khoa học giúp con người trả lời được những câu hỏi như: Nó là cái gì; nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, chức năng của nó; những quy luật chi phối quá trình hình thành, phát sinh, phát triển, chuyển hoá của nó; v.v. Đây là những luận cứ để con người dự báo tương lai, xác định mục tiêu, lực lượng, phương thức, phương tiện, v.v. để thực hiện mục tiêu của mình.
Một trong những tính rất ưu việt nữa của tri thức khoa học là nó định hướng cho con người thực hiện thành công mục đích của mình ngay cả khi môi trường, hoàn cảnh và các mối liên hệ đã hoàn toàn thay đổi. Tính ưu việt này có khả năng đáp ứng được những yêu cầu nảy sinh từ sự biến động trên tất cả các lĩnh vực và sự khác nhau mà bên trên đã đề cập đến. 
Tri thức khoa học về đạo đức là đạo đức học, đây là lý luận về đạo đức, là các học thuyết về đạo đức [6].  Đạo đức học không dạy con người đạo đức mà nó trang bị cho con người tri thức về tính chỉnh thể, toàn vẹn của đời sống đạo đức; về những mối liên hệ bản chất và bản chất của các mối liên hệ trong đời sống đạo đức, về những quy luật chi phối quá trình hình thành, phát sinh, phát triển, chuyển hoá của những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức, v.v. để con người lựa chọn, điều chỉnh hành vi của mình và đánh giá các hiện tượng đạo đức trong xã hội.
 Ở Việt Nam, đạo đức học không phải là môn học chính thức mang tính bắt buộc mà những nội dung về đạo đức học chỉ là một phần của một chương hoặc một chương trong giáo trình, một chuyên đề tự chọn trong toàn bộ chương trình đào tạo công tác xã hội. Lượng thời gian và lượng kiến thức ít ỏi tương ứng với thời gian ấy không đủ để người được  đào tạo có tri thức khoa học về đạo đức làm cơ sở định hướng cho đạo đức nghề nghiệp. Sự thiếu thốn tri thức này dẫn đến cách xử lý trong nhiều trường hợp cụ thể của người làm công tác xã hội mang nặng yếu tố cảm tính; nó bộc lộ sự chưa tối ưu về hiệu quả của quá trình đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hoá các dịch vụ công tác xã hội.
Ngay trong chương trình đào tạo, khi xác định đối tượng mà người làm công tác xã hội tiếp cận là người nghèo; người già; người dân tộc thiểu số; người khuyết tật; người là nạn nhân của bạo hành; trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; v.v. thì giá trị nghề nghiệp của công tác xã hội rất đáng tôn vinh. Song, khi coi những đối tượng này là “nhóm người yếu thế” hay “trong một số tài liệu còn được nhắc tới cái tên là nhóm người ngoài rìa xã hội” [7] thì, xét ở góc độ đạo đức, tính nhân văn không còn trọn vẹn của một nghề mà bản chất của nó là hoạt động mang giá trị đạo đức. Ở đây, khái niệm “nhóm người yếu thế” đã làm đối tượng được giúp đỡ cảm nhận “tình thương yêu” của người làm công tác xã hội thành “lòng thương hại”, khái niệm “nhóm người ngoài rìa xã hội” làm đối tượng được giúp đỡ cảm nhận mình đang bị lăng mạ. Sự giao thoa, tính tương đồng cả về lý trí và tình cảm của người làm công tác xã hội và đối tượng mà họ phục vụ bị sứt mẻ, hiệu quả của công tác xã hội không được đầy đủ như thiện tâm của người làm công tác xã hội mong muốn.
Thực tiễn ở các tỉnh miền Nam Việt Nam cũng cho thấy điều này. Khoảng trên 30 năm trở về trước, những nơi dùng để cải tạo các đối tượng là trộm, cướp, mại dâm, ma tuý, v.v.  thường được gọi là “Trường phục hồi nhân phẩm”. Cách gọi này tạo ra tâm lý rất mặc cảm của của học viên trong trường. Các nhà khoa học khi nghiên cứu về đối tượng này cảm nhận được không khí sinh hoạt nặng nề trong cuộc sống của họ và rất khó tiếp cận với họ vì hầu như ai cũng tìm mọi cách để lảng tránh. Song, khi những nơi này mang tên “Trường xây dựng thanh niên mới” thì tất cả biến đổi theo chiều hướng tích cực rất nhanh.
Từ một số vấn đề nêu trên cho thấy:
1). Khi sử dụng tài liệu nước ngoài dịch ra tiếng Việt trong chương trình đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam và ngôn ngữ sử dụng trong các văn bản cũng như trong giao tiếp cần phải hết sức cân nhắc. Một mặt phải đảm bảo được tính chuẩn xác của khoa học, một mặt phải tránh làm tổn thương đến người được nhận sự giúp đỡ và phải phù hợp với tâm, sinh lý của dân tộc, nhất là cho đến nay yếu tố “duy cảm” vẫn còn nặng hơn yếu tố “duy lý” trong lối sống, nếp sống của con người Việt Nam.
2). Cần đưa Đạo đức học trở thành môn học chính thức trong chương trình đào tạo công tác xã hội để người làm công tác xã hội có tri thức khoa học về đạo đức trong quá trình thực hiện một nghề mà bản chất của nó là đạo đức. Môn học này không nên mang nặng tính hàn lâm như đào tạo chuyên ngành đạo đức học mà nên thiên về đạo đức học ứng dụng; nó phải gắn với cuộc sống của con người Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập để người học có thể thích nghi được với thế giới phong phú luôn luôn biến động và phụ thuộc lẫn nhau.
Từ những yêu cầu trên, môn học cần có những nội dung cơ bản sau:  
Phần thứ nhất: Tổng quan về đạo đức.
Đây là phần lý luận chung về đạo đức nhằm giải quyết các vấn đề như: Đạo đức là gì; cấu trúc của đạo đức; nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, chức năng của đạo đức; mối quan hệ của đạo đức với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội; một số phạm trù cơ bản của đạo đức học; một số quy luật chi phối quá trình hình thành, phát sinh, phát triển của đạo đức; một số khuynh hướng đạo đức lớn trong lịch sử và cơ sở để xác định giá trị đạo đức.
Nội dung phần này giúp người học thực hiện những hành vi đạo đức mang tính tự giác cao và có thái độ ứng xử hợp lý trước các hiện tượng đạo đức. 
Ví dụ, nếu người học hiểu: Một hành vi có động cơ tốt, kết quả tốt là thiện thì họ sẽ bộc lộ sự tán thành, ủng hộ cho dù đấy là những hành vi nhỏ đem lại những hiệu quả nhỏ; động cơ tốt, kết quả xấu là không ác thì họ sẽ không phê phán, không lên án khi có những hành vi đem lại những điều không như mong muốn; động cơ xấu, kết quả xấu là ác thì họ sẽ ngăn chặn, phản đối cho dù đấy là hành vi nhỏ đem lại những điều xấu nhỏ; động cơ xấu, kết quả tốt là không thiện thì họ không khuyến khích, không cổ vũ ngay cả khi kết quả ấy đem lại lợi ích cho nhiều người; v.v.
Phần thứ hai: Đạo đức của người Việt Nam truyền thống và thực trạng đạo đức của người Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Phần này giúp người học có sự nhận thức đúng đắn, khách quan về những phẩm chất tích cực và những hạn chế của dân tộc, trong đó có bản thân mình. Nội dung của phần này nên đi vào: 
-  Những điều kiện hình thành đạo đức của người Việt Nam truyền thống: 
+ Môi trường tự nhiên, hoàn cảnh địa lý;
   + Lịch sử dựng nước, giữ nước;
+ Nền kinh tế tiểu nông;
   + Giao lưu văn hoá (Ở đây cần nhấn mạnh đến ảnh hưởng từ những học thuyết của nước ngoài mà dân tộc ta đã sử dụng làm quốc giáo; những tư tưởng, quan điểm, quan niệm của những học thuyết đã, đang và sẽ còn ảnh hưởng nhiều đến đời sống đạo đức của dân tộc; đặc biệt tư tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, ngũ giới, lục độ, v.v. của Phật giáo; tư tưởng về liêm, chính, trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, v.v. của Nho giáo). 
-  Những phẩm chất tích cực và những hạn chế trong đời sống đạo đức của người Việt Nam truyến thống:
Vấn đề này đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và chương
trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước mang mã số KX. 07 tổng kết. Nội dung cơ bản của nó là: 
    + Về những phẩm chất tích cực: Người Việt Nam truyền thống có lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống [8].
    +  Về những hạn chế: Người Việt Nam truyền thống nặng tính cục bộ, địa phương; tư tưởng bình quân gắn với thái độ “cào bằng”; ghen ghét, đố kỵ những người vượt trội hơn mình; hay can thiệp vào cuộc sống riêng tư, can thiệp vào quá trình phát triển của cá thể; tâm lý cầu an, cầu may; hành động tự do, tuỳ tiện, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, coi thường pháp luật; v.v. [9].
- Thực trạng đời sống đạo đức của con người Việt Nam giai đoạn hiện nay:
Có thể lấy kết luận của Hội đồng Lý luận Trung ương và kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX.04.24/11-15 làm cơ sở để nhận thức thực trạng đời sống đạo đức của người Việt Nam giai đoạn hiện nay. Đấy là: “Ba mươi năm đổi mới, đời sống tinh thần có nhiều thay đổi nhưng tàn dư lạc hậu, tâm lý, lối sống tiểu nông, sản xuất nhỏ; tư duy, phong cách cơ chế cũ; những thói hư, tật xấu và những mặt hạn chế của người Việt Nam vẫn đang tồn tại dai dẳng” [10]; “Sự xuống cấp về văn hoá, đạo đức, đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Hiện tượng phai nhạt lý tưởng; lối sống thực dụng, vị kỷ, vô cảm; sự vô trách nhiệm, thiếu kỷ luật trong lao động, hoạt động công vụ; sự lệch lạc trong sáng tác, trình diễn, cảm thụ văn học, nghệ thuật, … chưa được khắc phục” [11]; “Theo kết quả điều tra xã hội học do đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX. 04. 24/11-15 tiến hành, những tật xấu của con người Việt Nam cần được khắc phục bao gồm: bệnh giả dối; bệnh thành tích; bệnh thiếu ý thức pháp luật; bệnh đối phó; nạn quan liêu, cửa quyền; bệnh nói xấu sau lưng; bệnh hình thức; thói dựa dẫm; bệnh sỹ diện, háo danh; bệnh sống bằng quan hệ; bệnh bè phái; bệnh hám lợi” [12].
 - Những yêu cầu cơ bản về đạo đức của người Việt Nam giai đoạn hiện nay:
Phát triển văn hoá, xây dựng con người Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Những tư tưởng cơ bản về vấn đề này thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nó được tiếp tục bổ sung, phát triển trong Nghị quyết Trung ương chín khoá XI, trong đó “Đảng đã nêu rõ định hướng phát triển con người toàn diện về tư tưởng, trí tuệ, tâm hồn, thể chất, đặc biệt là đạo đức, lối sống, nhân cách với những đặc điểm cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo” [13].
 Phần thứ ba: Đạo đức ngành công tác xã hội; những yêu cầu cơ bản về phẩm chất đạo đức của người làm công tác xã hội ở Việt Nam và những nguyên tắc mang tính định hướng để thực hiện những yêu cầu đó.
Phần đạo đức ngành công tác xã hội và những yêu cầu cơ bản về phẩm chất đạo đức của người làm công tác xã hội đã được biên soạn trong “Giáo trình Nhập môn công tác xã hội” của Trường Đại học Lao động – Xã hội mà nội dung cơ bản của nó là:
 -  Về các quy định chuẩn mực đạo đức trong ngành công tác xã hội:
 +Nhân viên xã hội cần phải có phẩm chất, năng lực và trách nhiệm phù hợp với công việc.
 + Luôn có ý thức rèn luyện khả năng và nâng cao trình độ chuyên môn. 
+ Có tinh thần phục vụ cao, phải coi phục vụ là trách nhiệm hàng đầu trong công tác xã hội.
 Liêm chính. 
+ Học hỏi và nghiên cứu [14]. 
-  Về những yêu cầu cơ bản về phẩm chất đạo đức đối với người làm công tác xã hội: 
+ Sự cảm thông và tình thương yêu con người.
 + Niềm đam mê nghề nghiệp, sự cam kết với nghề nghiệp.
 + Trung thực.
 + Thái độ cởi mở.
 + Tính kiên trì, nhẫn nại. 
+ Lòng vị tha.
 + Quan điểm cấp tiến.
 + Cương trực [15].
 Những nội dung trên mang tính định hướng, cần gắn nó với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam truyền thống và cụ thể hoá nó trong việc phê phán những hiện tượng tiêu cực, đối lập với những yêu cầu trên trong bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay.
 - Về những nguyên tắc mang tính định hướng để người làm công tác xã hội thực hiện những yêu cầu phẩm chất đạo đức của mình:
Phần này nên gắn với một hoạt động mà toàn dân tộc Việt Nam đã và đang thực hiện từ năm 2006 đến nay; đấy là “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; trong đó, theo Hồ Chí Minh, có bốn nguyên tắc để xây dựng nền đạo đức mới, gồm:
1). Lời nói phải đi đôi với việc làm; 
2). Xây phải đi đôi với chống; 
3). Phải nêu gương sáng về đạo đức để mọi người noi theo; 
4). Phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện suốt đời [16]. 

Xây dựng chương trình một môn học để đưa vào đào tạo là việc làm công phu với sự tham gia của nhiều nhà giáo, nhiều nhà khoa học. Những nội dung nêu trên là những ý tưởng ban đầu nhằm góp phần bàn về nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hoá các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn hiện nay để các nhà chuyên môn tham khảo ./.
     PGS.TS. Vũ Tình

CHÚ THÍCH:
1. Xem Bùi Thị Xuân Mai  chủ biên (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr. 18 – 19.
2. Khoảng thế kỷ thứ IV trước Công nguyên mới có sự phân biệt “moral” là đạo đức, “ethicos” là đạo đức học.
3. Xem Vũ Tình (1998), Đạo đức học phương Đông cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13-14.
4. Xem Vũ Tình (1998), Đạo đức học phương Đông cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.187-188.
5. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 136 – 137.
6. Khoa học về đạo đức là đạo đức học chứ không phải đạo đức học nào cũng là khoa học.
7. Bùi Thị Xuân Mai  chủ biên (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr.39.
8. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 56.
9.  Xem: -  Ban Chủ nhiệm chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước mã số KX.07, Phạm Minh Hạc chủ nhiệm (1996), Nội dung chương trình      chuyển tải thành sách “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.49.
 -  Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo trình Triết học dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không  thuộc chuyên ngành Triết học, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr. 547.
10. Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông  đồng chủ biên (2015), 30  năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 169.
11. Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông  đồng chủ biên (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 163-164.
12.  Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông  đồng chủ biên (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 443.

13.  Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông  đồng chủ biên (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 155.
14. Xem Bùi Thị Xuân Mai  chủ biên (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr.117.
15. Xem Bùi Thị Xuân Mai  chủ biên (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr.155 - 156.
16.Xem Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 261 – 265.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

1.  Ban Chủ nhiệm chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước mã số KX.07, Phạm Minh Hạc chủ nhiệm (1996), Nội dung chương trình chuyển tải thành sách “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2.   C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3.   Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 
4.   Phạm Minh Hạc (2013), Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5.   Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Đạo đức học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6.   Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông  đồng chủ biên (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 
7.   Bùi Thị Xuân Mai chủ biên (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội.
8.   Nguyễn Đăng Tiến chủ biên (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
9.   Vũ Tình (1998), Đạo đức học phương Đông cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. G.Badzeladze (1985), Đạo đức học – Tập 1, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
11. Francois Jullien (2000), Xác lập cơ sở cho đạo đức, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng.
12. V.Ladimir Soloviev, Karol Vojtyla, Albert Schweitzer (2004), Triết học đạo đức, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội.




























 



























Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.