Sự kế thừa tư tưởng triết học đạo đức của Immanuel Kant trong triết học thực tiễn Johann Gottlieb Fichte

(TS. Ngô Thị Mỹ Dung: Tạp chí Khoa học xã hội, Viện KHXH vùng Nam bộ, số 06, 2009, tr. 03 -08)

TÓM TẮT
Kế thừa những tư tưởng nhân văn của triết học đạo đức Immanuel Kant (1724 -1804) về vấn đề tự do, quyền và phẩm giá con người, triết học thực tiễn Johann Gottlie Fichte (1762 - 1814) (đạo đức, pháp quyền, tôn giáo,…) đã xem con người là trung tâm của mọi vấn đề triết học, khẳng định sự tự do, quyền cá nhân của con người (bất khả xâm phạm thân thể, quyền sống,…) và việc cần thiết phải xây dựng một nhà nước pháp quyền nhằm đảm bảo những quyền đó. Mặc dù còn nhiều hạn chế bởi thế giới quan duy tâm và sự qui định của tính lịch sử thời đại, nhưng nhiều  ý tưởng của ông về phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, về giáo dục ý thức đạo đức và ý thức pháp luật hướng con người vươn tới sự hoàn thiện, rất đáng được trân trọng. 

Với việc nghiên cứu con người như một chủ thể hoạt động tích cực trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từ đấy hướng con người sống và hành động vì con người, triết học đạo đức của Immanuel Kant (1724 -1804) đã để lại dấu ấn sâu đậm và lâu dài trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nền triết học cổ điển Đức, trong đó có triết học Johann Gottlieb Fichte (1762 - 1814). 
Kế thừa những tư tưởng nhân văn của triết học đạo đức Kant, triết học thực tiễn Fichte đã xem con người là trung tâm của mọi vấn đề triết học, khẳng định quyền tự do của con người và việc cần thiết phải xây dựng một nhà nước pháp quyền nhằm đảm bảo quyền tự do đó. Bài viết này chúng tôi chỉ phân tích một số nội dung cơ bản mang tính kế thừa của triết học thực tiễn Fichte (triết học đạo đức, triết học tôn giáo, triết học pháp quyền, triết học lịch sử,…) như vấn đề con người và quyền tự do của con người; nhà nước và phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, chứ không đề cập đến toàn bộ hệ thống triết học thực tiễn của ông. 
1. Con người và quyền tự do của con người  
Vấn đề cơ bản nhất của triết học Kant nói chung và triết học đạo đức của ông nói riêng là vấn đề con người, hay chính xác hơn là tìm lời giải đáp cho câu hỏi: con người là gì (Was ist der Mensch ?), từ đấy hướng con người sống và hành động xứng đáng với phẩm giá làm người.
Phân tích mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người trong đời sống xã hội, Kant đưa ra nhận định rằng con người vừa là một "thực thể cảm tính" ("Sinnwesen"), vừa là một "thực thể tư duy" ("Denkwesen"). Là một "thực thể cảm tính", con người chịu sự qui định của những nguyên lý nhân quả, nhưng là một "thực thể tư duy", con người là tự do (Kant, Immanuel, 1979, tr. 619 – 620). 
Tự do là sự độc lập (Unabhaengigkeit), tự quyết (Autonomie) của con người trong những mối quan hệ xã hội (hoạt động đạo đức, hoạt động pháp quyền, hoạt động tôn giáo,...). Tự do vừa là quyền tự nhiên, vừa là quyền do pháp luật đem lại. Tự do là quyền hiện hữu duy nhất của quyền làm người. Tự do làm nên phẩm giá của con người (Kant, Immanuel, 1977, tr. 55 – 57). 
Kant cho rằng mỗi người cần phải nhận thức về quyền tự do, quyền làm người của mình, không bao giờ để mình chỉ trở thành phương tiện mà luôn đồng thời là mục đích, và cũng không bao giờ sử dụng người khác chỉ như là phương tiện để đạt được mục đích của mình (Kant, Immanuel, 1977, tr. 54 – 55). Đặc biệt, trong tư luật - phù hợp với nguyên tắc tôn trọng phẩm giá con người - không bao giờ được đối xử với con người như là một vật hoặc chỉ là phương tiện để đạt được một mục đích nào đó. Và quyền lực trừng phạt của nhà nước, không được lập luận bởi nhiệm vụ gìn giữ tình trạng pháp luật, mà bởi sự cần thiết về mặt đạo đức của sự trừng phạt. Mặt khác, để bảo vệ quyền làm người hiện hữu duy nhất đó thì quyền lập pháp phải thuộc về nhân dân và ba quyền lực nhà nước phải độc lập với nhau (Kant, Immanuel, 1977, tr. 181 – 190).
Kế thừa những tư tưởng trên của Kant, Fichte xem con người là trung tâm của mọi vấn đề triết học và cho rằng nhiệm vụ của triết học là đưa lại cho con người một cách nhìn mới về chính bản thân mình, làm cho con người sống với chính mình, trở thành con người đúng nghĩa.
Cũng như Kant, Fichte cho rằng con người vừa là một "thực thể cảm tính" với những bản năng tự nhiên (Naturtrieben), vừa là một "thực thể lý tính" với bản năng tinh thần (Geisttrieb). Là "thực thể cảm tính", con người chịu sự chi phối của luật tự nhiên, vì vậy không hoàn toàn tự do. Nhưng là "thực thể lý tính" con người là tự quyết, tự qui định mình (Selbstbetaetigung). 
Bản năng tự nhiên là những đòi hỏi nhằm thỏa mãn những nhu cầu cá nhân, và khi hướng tới sự thỏa mãn đó, con người hoàn toàn phụ thuộc vào khách thể của mình. Với tư cách là một "thực thể cảm tính", con người là một sản phẩm của tự nhiên và trong chừng mực đó là một mắt xích của tất yếu tự nhiên. 
Bản năng tự nhiên và bản năng tinh thần là hai mặt của một bản năng nguyên thủy (Urtrieb), làm nên bản chất con người. Khác với bản năng tự nhiên, bản năng tinh thần luôn hướng tới sự tự chủ, nghĩa là sự tự do. Tự do là năng lực đặc biệt của con người với tư cách là một thực thể lý tính.
Bản năng tự nhiên thể hiện ra ngoài là sự khao khát (Sehnen) và bản năng tinh thần là sự đòi hỏi tuyệt đối (absolute Forderung). Bản năng tinh thần chính là sự tự trọng và nhân phẩm con người, bởi không có ý thức tự do thì không thể là thực thể lý tính. Với ý thức về tự do, con người tự qui định mình và là mục đích của chính mình. 
Kế thừa và phát triển những tư tưởng của Kant trong cách lập luận về vấn đề con người và quyền tự do của con người, trong tác phẩm "Hệ thống của học thuyết luân lý theo những nguyên tắc của học thuyết khoa học" ("Das System der Sittenlehre nach Prinzipien der Wissenschaftslehre") (1798), Fichte cho rằng lý tính thực tiễn là nguồn gốc của mọi vấn đề. Ông viết: "Chúng ta hành động, không phải vì chúng ta nhận thức, mà chúng ta nhận thức, bởi chúng ta sẽ hành động: lý tính thực tiễn là nguồn gốc của mọi lý tính" ("Wir handeln nicht, weil wir erkennen, sondern wir erkennen, weil wir zu handeln bestimmt sind: Die praktische Vernunft ist die Wurzel aller Vernunft" (Hirschberger, Johannes, 1991, tr. 369).
Nếu Kant cho rằng hành vi đạo đức là hành vi xuất phát từ "một ý chí tốt", nghĩa là một ý chí vô điều kiện, một ý chí tốt tự nó, thì Fichte cũng lập luận rằng ý chí đạo đức là ý chí lý tính thuần túy (reiner Vernunftwille), tức ý chí lý tưởng của toàn nhân loại nói chung (der Idealwille der Menschheit ueberhaupt). Ý chí này tồn tại dưới dạng chuẩn mực thuần túy của mọi ý muốn (reine Norm alles Wollens). Vì vậy nó mang tính phổ quát, có thể áp dụng cho tất cả mọi người. Nó là mệnh lệnh tuyệt đối và được thể hiện dưới dạng hình thức: "Hãy luôn luôn hành động theo suy nghĩ tốt nhất vì bổn phận của anh!" ("Handle stets nach bester Ueberzeugung von deiner Pflicht!" (Hirschberger, Johannes, 1991, tr. 367). 
Cũng như Kant, Fichte cho rằng chỉ những hành vi xuất phát từ bổn phận tồn tại trong lương tâm mỗi người mới là hành vi đạo đức. Và cũng chính vì thế mà mệnh lệnh tuyệt đối được ông diễn giải một cách ngắn gọn như sau: "Hãy hành động theo lương tâm của anh!" ("Handle nach deinem Gewissen!") (Hirschberger, Johannes, 1991, tr. 368). Bổn phận hành động theo lương tâm là cơ sở cuối cùng và duy nhất của nhận thức con người. Kế thừa Kant, mọi hành vi xuất phát từ ý chí hạ đẳng (ham muốn thỏa mãn nhu cầu bản năng), cũng như các nguyên tắc đạo đức mang tính vật chất, đều bị Fichte bác bỏ.  
Cũng như Kant, Fichte cho rằng cái thiện tối cao là hành động hợp với lý tính, chỉ có đức hạnh là xứng đáng với hạnh phúc mà thôi, nghĩa là sống đức hạnh để có thể có được hạnh phúc. Ông viết:  "Không có đạo đức thì không thể nào có thể có hạnh phúc" ("ohne Sittlichkeit ist keine Glueckseligkeit moeglich") (Hirschberger, Johannes, 1991, tr. 370). 
Theo Fichte, tự do là sự tự hiện thực hóa của mỗi cá nhân thông qua hành vi cụ thể. Nhưng mỗi cá nhân tự do chỉ có thể tồn tại trong một môi trường tự do. Vì vậy khái niệm tự do được ông nghiên cứu gắn liền với những mối quan hệ pháp quyền.
Fichte cho rằng sự tồn tại của thể xác là điều kiện của tự do và không có thể xác sẽ không có bất kỳ mối quan hệ pháp quyền nào, vì vậy bất khả xâm phạm thân thể (Unantastbarkeit des Leibes) là một trong những quyền nguyên thủy của con người, quyền này được cụ thể hóa thành quyền duy trì và tự bảo vệ thân thể, quyền sống và làm việc xứng đáng với phẩm giá của một con người (Fichte, Johann Gottlieb, 1971, tr. 119). 
Fichte lập luận rằng quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền duy trì sự sống là những quyền cá nhân tuyệt đối. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội những quyền này bị hạn chế bởi những quan hệ pháp quyền (Rechtsverhaeltnisse) giữa những cá thể tự do cùng hoạt động trong một môi trường tự do. 
Bởi con người chỉ có thể là người trong môi trường con người, nên theo Fichte, sẽ là vô nghĩa nếu như nói về quyền của một cá nhân riêng lẻ nào đó mà không đề cập đến mối quan hệ cá nhân của người đó trong cộng đồng với những cá thể khác. Ông viết: "Con người chỉ có thể là người trong môi trường con người. Cần phải có nhiều người... Khái niệm người vì vậy không phải là khái niệm cá nhân riêng lẻ, bởi đó là điều không thể tồn tại. Sự đòi hỏi của hoạt động tự do (freie Selbsttaetigkeit) là cái mà người ta gọi là giáo dục. Tất cả các cá nhân đều phải được giáo dục thành người, nếu không họ sẽ không trở thành những con người" (Fichte, Johann Gottlieb, 1971, tr. 39). 
Mặc dù khái niệm tự do theo quan điểm của Fichte là một quá trình hoạt động của ý thức cá nhân, ý thức cộng đồng, là hoạt động giáo dục chứ không phải là một định đề hay quyền bẩm sinh như quan điểm của Kant, nhưng những lập luận trên của Fichte nhằm tìm lời giải đáp cho những vấn đề mà Kant đã đặt ra là : tự do là gì, và, làm thế nào để có thể đảm bảo quyền tự do đó.
Cũng như Kant, Fichte cho rằng con người là một "thực thể xã hội", vì vậy tự do của con người không thể nằm ngoài các mối quan hệ pháp quyền. Tuy nhiên, quan hệ pháp quyền chỉ có thể được thực hiện dưới điều kiện cá nhân với những cá nhân khác cùng chia sẻ, trao đổi qua lại lẫn nhau và cùng muốn sống chung trong một cộng đồng. Tự do và quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đòi hỏi tự do chỉ có thể có được thông qua sự hiểu biết về quyền (Recht), nhưng mỗi cá nhân chỉ có thể hiểu được quyền này, nếu anh ta hiểu được quyền của những người khác. Quyền chỉ có thể là sự phục tùng ý chí giống nhau của tất cả. Quyền của mỗi người được xác định thông qua sự công nhận (Anerkennung) của họ đối với quyền của những người còn lại, và ngoài quyền này thì không ai có quyền nào khác (Fichte, Johann Gottlieb, 1971, tr. 39 - 52). 
Fichte cho rằng giữa "quyền" và "luật" có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Quyền không phải là sự mong đợi lợi ích (Gunst) mà là nghĩa vụ (Schuldigkeit) và sự cam kết (Verbindlichkeit) của mỗi người đối với một luật chung. Quyền luôn gắn liền với đòi hỏi về sự tuân thủ của ý chí theo một qui luật nhất định. Không có quyền nào mà không có sự cam kết và ngược lại. Sự cam kết chứng tỏ rằng các bên tham gia đều phục tùng những điều kiện mà người ta gọi là luật. Ông viết: "Chừng nào sự cam kết giữa các cá nhân còn kéo dài thì chừng đó vẫn còn quyền. Người ta có quyền chừng nào người ta tuân thủ luật" (Fichte, Johann Gottlieb, 1980, tr. 552). 
Từ sự phân tích mối quan hệ giữa tự do và quyền, giữa quyền và luật, Fichte kết luận rằng: "pháp luật nhất thiết phải là một tổng thể (eine Allheit), và chỉ những cá thể mà ý chí của anh ta tự giác phục tùng pháp luật mới thuộc vào tổng thể đó" (Fichte, Johann Gottlieb, 1980, tr. 552). Một nguyên tắc quan trọng nhất trong quan hệ pháp quyền là "tất cả cần phải được tự do và không ai cản trở tự do của người khác" ("Alle sollen frei sein, und keiner die Freiheit des Andern stoeren") (Fichte, Johann Gottlieb, 1980, tr. 497). 
Kế thừa tư tưởng của Kant, Fichte cũng cho rằng tự do của mỗi cá nhân thể hiện thông qua hành vi đạo đức. Nhưng hành vi đạo đức chỉ có thể có nếu các cá nhân đối xử với nhau như những nhân cách, thừa nhận quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền duy trì sự sống của tất cả những người còn lại. Tất cả cần phải hạn chế tự do tự nhiên của mình để người khác cũng được tự do. Tuy nhiên theo Fichte, trong thực tế không phải lúc nào các cá nhân cũng thực hiện đúng nguyên tắc trên, vì vậy tình trạng sử dụng vũ lực để chống lại nhau là khó tránh khỏi. Để thoát khỏi tình trạng trên, các cá nhân phải trao toàn bộ quyền và sức mạnh của mình cho một tổ chức cao hơn có thể đảm bảo quyền của họ, đó là nhà nước. 
2. Nhà nước và quyền lực nhà nước 
Việc hiện thực hóa tự do và quyền cá nhân của con người được Fichte phân tích trong mối quan hệ với nhà nước và quyền lực nhà nước. Theo Fichte, một trong những câu hỏi cơ bản của triết học pháp quyền là làm thế nào để những quyền cá nhân trên có thể trở thành hiện thực.
Fichte cho rằng mỗi người có thể thể hiện quyền của mình thông qua việc cùng xây dựng (errichten) nhà nước và quyền lực nhà nước. Cũng như Kant, Fichte cho rằng nhà nước được hình thành trên cơ sở một kế ước chung, là kết quả của tự do ý chí của toàn dân. Khi trao quyền của mình cho nhà nước, các công dân hoàn toàn tin tưởng rằng quyền lực đó bảo đảm toàn vẹn tất cả các quyền của chính họ, rằng trong nó không có chuyên quyền độc đoán mà chỉ có ý chí pháp quyền (nur die Willen zum Recht) (Fichte, Johann Gottlieb, 1971, tr. 101 - 103). 
Làm thế nào để đảm bảo rằng chỉ có luật pháp sẽ thống trị? Để làm được điều đó, theo Fichte, luật phải là luật ý chí của tất cả (ein Gesetz des Willens Aller), và " luật pháp phải là quyền lực tối cao, quyền lực tối cao phải là luật pháp, hai chính là một" (Das Gesetz muss die Obergewalt, die Obergewalt muss das Gesetz sein, beide eins) (Fichte, Johann Gottlieb, 1971, tr. 101 - 105). 
Fichte khẳng định rằng quyền lực chỉ có thể là quyền đích thực khi nó là ý chí pháp luật. Không cá thể nào mà chỉ có thể là một tập thể mới có thể qui định quyền lực bằng luật pháp thông qua ý chí chung của tất cả mọi người. Nhà nước và chỉ có nhà nước mới có thể là một tập thể như vậy đảm bảo quyền của tất cả mọi người. Quyền lực nhà nước phải bị giới hạn bởi nhiệm vụ bảo vệ pháp luật. Bất cứ sự lạm dụng quyền lực nào đi ngược lại nhiệm vụ trên đều bị coi là trái luật.
Làm thế nào để có thể xây dựng một nhà nước vừa đảm bảo quyền cá nhân của con người mà không lạm dụng quyền lực? Cần xây dựng một trật tự nhà nước trong đó mỗi người có được những quyền mà luật pháp qui định. Giải pháp cơ bản của vấn đề này, theo Fichte, là giám sát quyền lực theo nguyên tắc nghị viện. Sử dụng quyền lực và giám sát quyền lực thông qua sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp (Fichte, Johann Gottlieb, 1971, tr. 148 - 149). 
Vấn đề quyền lực nhà nước được Fichte phân tích sâu sắc hơn trong tác phẩm "Hệ thống học thuyết pháp quyền" ("Das System der Rechtslehre") (1812). Theo đó một nhà nước pháp quyền là nhà nước hiện thực hóa những quyền cá nhân của con người. 
Kế thừa tư tưởng của các nhà Khai sáng, đặc biệt là của Rousseau và Kant, Fichte khẳng định quyền tối cao của công dân trong quyền lập pháp. Nhà nước vừa là quyền lực cần thiết bảo vệ pháp quyền nhưng đồng thời có thể là cơ quan quyền lực nguy hiểm vi phạm quyền của con người. Vì vậy để hạn chế sự chuyên quyền, các cơ quan quyền lực của nhà nước phải độc lập với nhau. Nhà nước vừa phải có nhiệm vụ cưỡng chế vừa có trách nhiệm đảm bảo quyền tự do cao quí, độc lập của tất cả. Nếu không thực hiện được nhiệm vụ trên nhà nước chỉ còn lại là sự cưỡng chế  (blosser Zwang) và là kẻ nô dịch (Unterjochung) (Fichte, Johann Gottlieb, 1980, tr. 538 - 540). 
Kế thừa ý  tưởng của Kant về một "vương quốc đạo đức" (Reich der Sittlichkeit) trong tương lai - một ý tưởng nằm trong sự tiến triển vô cùng tận của lịch sử loài người - Fichte cũng cho rằng mục đích cuối cùng của nhân loại là thiết lập "vương quốc của tự do" và vương quốc này chỉ có thể đạt được thông qua sự trau dồi và hoàn thiện ý chí đạo đức. 
Kế thừa Kant, Fichte cũng cho rằng pháp luật là cần thiết nhưng chỉ là phương tiện bên ngoài trên con đường tiến tới đạo đức. Giáo dục hướng tới tự do và giáo dục ý thức pháp luật không những là nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền mà còn là phương tiện mang lại hiệu quả duy nhất bảo đảm sự công bằng lâu dài.
Nhìn chung, triết học Fichte chịu nhiều ảnh hưởng nhiều bởi triết học đạo đức Kant. Sự ảnh hưởng đó thể hiện rõ nhất trong triết học đạo đức và triết học pháp quyền của ông. Kế thừa Kant, Fichte đề cao tính hình thức của mệnh lệnh tuyệt đối, bác bỏ mọi nguyên tắc thực tiễn vật chất gắn liền với năng lực mong muốn của con người, kêu gọi con người hãy hành động vì bổn phận đạo đức. Cũng như Kant, Fichte cho rằng cơ sở xác định giá trị đạo đức là lý tính thực tiễn, và chỉ hành vi hợp lý tính mới là là hành vi đạo đức. Con người cần phải sống xứng đáng với chính mình, sống đức hạnh để có thể có được hạnh phúc. Kế thừa nguyên tắc tôn trọng phẩm giá con người, Fichte khẳng định quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền sống và làm việc xứng đáng với phẩm giá làm người. Con đường tốt nhất để có thể đảm bảo được quyền tự do và phẩm giá con người là xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó quyền lập pháp thuộc về nhân dân và các quyền lực nhà nước độc lập với nhau.
Nhìn một cách tổng thể, những vấn đề của triết học đạo đức và triết học pháp quyền Fichte đều xoay quanh những vấn đề mà triết học Kant đã đặt ra, mặc dù cách giải quyết về những vấn đề đó có thể khác nhau. Chịu ảnh hưởng mẽ từ Kant, triết học Fichte vì vậy cũng không thoát khỏi những hạn chế của người tiền bối khi ông đề cao ý chí thuần túy của con người, tách rời con người hiện thực khỏi đời sống hiện thực của nó. Tuy nhiên những ý tưởng của ông về một nhà nước lý tính (Vernunftsstaat) (1800) với sự phân công lao động phù hợp với năng lực tự nhiên, mỗi người đều phải có việc làm để tồn tại xứng đáng với nhân phẩm của một con người, hay vấn đề công bằng xã hội, sự điều tiết nghiêm ngặt của một nhà nước tài năng, cũng như tư tưởng của ông về một nhà nước pháp quyền (Rechtstaat) (1812) và việc giáo dục con người ý thức về tự do, tuân thủ pháp luật, vẫn còn có giá trị đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
Ngô Thị Mỹ Dung


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Fichte, Johann Gottlieb. 1971. Grundlage des Naturrechts nach Prinzipien der Wissenschaftslehre. Bd. 3. Bayrische Akademie der Wissenschaften. 
2. Fichte, Johann Gottlieb. 1980. Das System der Rechtslehre. Hamburg.
3. Hirschberger, Johannes. 1991. Geschichte der Philosophie. Bd. 2. Freiburg – Basel – Wien.
4. Kant, Immanuel. 1979. Kritik der reinen Vernunft. Philipp Reclam jun. Leipzig.
5. Kant, Immanuel. 1977. Metaphysik der Sitten. Frankfurt am Main.
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.